Cơ bản về tranh luận

Về cơ bản, trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, con người luôn có những cách nhìn khác nhau (view point) về cùng một vấn đề. Các cuộc tranh luận thường xảy ra khi khi các quan điểm, cách nhìn rất khác nhau, thậm chí đối lập. Bài Note này nhằm mục đích tóm tắt lại những gì mình học được trên Internet về các kiến thức cơ bản về “Tranh luận”. (Debate)

1- Thế nào là tranh luận (Debate)

Về cơ bản, tranh luận là việc 2 người hoặc 2 nhóm người (có thể nhiều, nhưng thường là hai) dùng các lập luận, dẫn chứng để bảo vệ một quan điểm, cách nhìn (trong 1 vấn đề cụ thể) mà mình tin là đúng. Quan điểm, cách nhìn của hai bên thường là đối lập. Ví dụ, một bên ủng hộ cho đốt pháo trở lại, bên kia thì phản đối.

Cần phân biệt “tranh luận” với “cãi vã”. Trong cãi vã, người ta hay dùng các thủ đoạn như “chỉ trích cá nhân”, “nói to”, thậm chí “văng tục chửi bậy” thay vì đưa ra lý lẽ.

Cũng nên phân biệt giữa “tranh luận” với “thảo luận”. Một cuộc thảo luận có thể có những cuộc tranh luận nhỏ, nhưng mục đích của thảo luận thường là để hướng tới một giải pháp, ý tưởng tốt hơn. Tranh luận thì ngược lại, mục đích chính là chiến thắng, để thuyết phục người nghe (đọc) rằng quan điểm của mình là đúng, hợp lý hoặc phủ định quan điểm của đối phương.

2- Chủ đề tranh luận

Một cuộc tranh luận thường xoay quanh một quan điểm nhất định. Các chủ đề thường gặp nhất là các vấn đề xã hội. Các chủ đề tranh luận thường hay có cụm từ “có nên” (should), “A tốt hơn B”, “A hợp lý hơn B”. Trong quá trình tranh luận, có thể các chủ đề nhỏ hơn liên quan, nhưng nội dung chính của tranh luận nhất thiết phải là topic được chọn ban đầu.

Chủ đề được chọn để tranh luận nên phù hợp với độ tuổi và giáo dục của những người tham gia. Ví dụ không nên tranh luận chủ đề “Có nên hợp pháp hoá mại dâm” với trẻ em (mặc dù có ngoại lệ với một số trẻ em hiểu biết trước tuổi).

Có hai nhóm khác (sides) khác nhau với một quan điểm, chính sách: nhóm ủng hộ (AFFIRMATIVE hoặc “Chính phủ” trong các cuộc họp quốc hội), nhóm phản đối (NEGATIVE, hoặc “Đối lập”).

3- Định nghĩa chủ đề tranh luận

Trước khi tranh luận về một quan điểm nào đó, hai nhóm tham gia cần phải thống nhất với nhau về định nghĩa của các khái niệm trong chủ đề tranh luận. Định nghĩa ở đây không chỉ mang nghĩa là định nghĩa của các từ riêng lẻ trong chủ đề mà còn là toàn bộ chủ đề. Ví dụ chủ đề “Có nên cho đốt pháo trở lại” là có ý nghĩa nhưng chủ đề “Cải bắp tốt hơn hoa hồng” lại không có chút ý nghĩa gì.

Nếu hai nhóm chưa thống nhất được định nghĩa của các khái niệm trong chủ đề tranh luận, nhóm phản đối cần đưa ra ý kiến để nhóm ủng hộ làm rõ hơn để đi tới thống nhất.

4- Lập luận (argument)

  • Các lập luận được đưa ra nhằm hỗ trợ cho quan điểm mà mình ủng hộ.
  • Các lập luận phải có dẫn chứng và các dẫn chứng cần chính xác và có thể kiểm chứng tính chính xác một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.

5- Cần tránh trong tranh luận

  • Đả kích cá nhân/tập thể người tham gia tranh luận: Người tranh luận quá xấu xí, béo, gầy, đời tư không liên quan đến chủ đề tranh luận. Đưa ra đả kích cá nhân sẽ làm mất điểm của mình/nhóm mình trong tranh luận. Xem một số sự kiện, có thể thấy ví dụ của việc đả kích cá nhân như khai thác đời tư, quan hệ họ hàng, làng xóm, etc để hạ thấp đối tượng và làm cho người nghe/xem xao lãng chủ đề chính.
  • Thiếu dẫn chứng hoặc dẫn chứng thiếu thuyết phục: Một lý lẽ đưa ra là thiếu thuyết phục nếu thiếu đi các dẫn chứng phù hợp, chính xác.
  • Chỉ dựa lập luận của đối phương để đối đáp. Dẫn chứng từng lời nói của đối phương để phản đối, hoặc dựa chủ yếu vào các lập luận của đối phương là không đủ và không tốt đối với một cuộc tranh luận. Người tranh luận cần phải đưa ra được các lập luận của riêng mình để bảo vệ cho quan điểm của mình.
  • Đánh tráo khái niệm: Đối phương dùng một định nghĩa khác cho khái niệm được đưa ra trong chủ đề tranh luận nhằm giành lợi thế. Gặp tình huống như thế này, cần đặt câu hỏi để làm rõ định nghĩa của khái niệm mà đối phương đề cập.
  • Nhét chữ vào mồm: Đối phương gán cho mình những điều mình không nói/đề cập tới trong các lập luận của mình và dựa vào đó để phản bác.

6- Một số phương pháp tranh luận

(Mới tìm hiểu được 1 phương pháp)

Phương pháp Socrates (Socratic Method)

Sử dụng chuỗi các câu hỏi khác nhau nhằm khiến người tranh luận đồng ý với một quan điểm đối lập với quan điểm ban đầu của họ, qua đó chứng tỏ quan điểm của đối phương là sai hoặc ít nhất là thiếu chính xác. Nghệ thuật của phương pháp nằm ở trong cách đặt câu hỏi cho đối phương, tấn công vào các giả sử (assumption) mà đối phương sử dụng khi đưa ra câu trả lời, đưa ra phản ví dụ.

Tham khảo:

  1. http://www.wikihow.com/Argue-Using-the-Socratic-Method
  2. http://www.niu.edu/~jdye/method.html

Từ điển online và các trang Web tra cứu cho người học tiếng Nhật

Trong bài viết này mình sẽ tổng hợp một số từ điển online và các trang Web tra cứu hữu ích cho người học tiếng Nhật.

  1. Từ điển Nhật-Việt Mazii: http://mazii.net
  2. Từ điển Jisho.org: http://jisho.org
  3. Từ điển RomajiDesu: http://www.romajidesu.com
  4. Tra cứu từ vựng, ngữ pháp, thành ngữ liên quan đến kỳ thi tiếng Nhật JLPT: http://jlptdictionary.com/
  5. Trang Web tập hợp câu và các câu dịch: http://tatoeba.org/eng 
  6. English-Japanese dictionary: http://www.alc.co.jp
  7. Kotobank Dictionary: https://kotobank.jp
  8. JGram – The Japanese Grammar database: http://www.jgram.org
  9. Tra cứu cách viết chữ Kanji: http://kakijun.jp/
  10. Rikaichan – Tra cứu nhanh trên Firefox: https://addons.mozilla.org/en-US/firefox/addon/rikaichan/. Addons tương tự cho Safari tại: http://ashchan.github.io/safarikai/

Bí quyết duy trì niềm say mê và động lực làm việc

Trong tuần vừa rồi, mình có đọc được một bài phỏng vấn tuyệt vời bằng tiếng Nhật. Bài phỏng vấn có tựa đề là “1回勝って終わる人と「勝ち続ける」人の差” – dịch sang tiếng Việt có nghĩa là “sự khác biệt giữa người chiến thắng một lần rồi dừng lại và người có thể duy trì động lực chiến thắng trong thời gian dài”. Người được phỏng vấn là Game thủ nổi tiếng người Nhật, Daigo Umehara. Daigo Umehara được coi là người chơi Street Fighter nổi tiếng nhất trên thế giới (Street Fighter có tên tiếng Việt là Chiến binh đường phố – trò game đối kháng 2D mà ai có “tuổi thơ dữ dội” đều biết). Daigo Umehara bắt đầu chơi Game đối kháng từ năm 11 tuổi, 14 tuổi vô địch toàn nước Nhật, 17 tuổi là nhà vô địch thế giới, liên tục chơi Game chuyên nghiệp trong 20 năm – một thời gian dài hiếm gặp trong giới Game thủ chuyên nghiệp. Năm 2015, sau khi dành quyền vào bán kết một giải Game, Daigo đã tặng giải thưởng trị giá 60 nghìn USD của mình cho quỹ học bổng của khoa thiết kế Game, đại học New York, Mỹ.

Trong bài phỏng vấn, Daigo Umehara chia sẻ những bí quyết để anh có thể duy trì được niềm say mê, động lực làm việc, động lực chiến thắng trong khoảng thời gian dài đến như vậy. Bài phỏng vấn có nhiều ý hay, trong đó nổi bật nhất là ý: mỗi ngày Daigo Umehara cố gắng phát hiện ra một điều mới (trong lĩnh vực chuyên môn của anh là Game, có thể là những kinh nghiệm hay kỹ thuật mới mẻ mà anh nghĩ ra) và ghi lại phát hiện đó. Đây có thể nói là mô hình thành công đặc trưng của Nhật Bản, được người Nhật cực kỳ tôn sùng. Thành công với người Nhật là tích luỹ của nhiều sự cố gắng nhỏ mỗi ngày. Việt Nam ta cũng có một số câu với ý nghĩa tương tự: “Kiến tha lâu cũng đầy tổ”, “Năng nhặt chặt bị”.

Sau đây là một số ý hay mình diễn giải từ bài phỏng vấn:

  • Để đạt được thành công to lớn trên lĩnh vực gì đều phải chấp nhận đánh đổi, hy sinh nhiều thứ khác. Umehara từ năm 11 tuổi, gần như mỗi ngày (trừ ngày giao thừa và đầu năm mới) đều đến các Game Center để rèn luyện tay nghề chơi game. Rất may là bố mẹ anh ta không có phản đối hay cấm đoán gì mà chỉ thắc mắc “tại sao thằng bé có thể say mê chơi Game đến thế?”
  • Để duy trì động lực, niềm say mê với lĩnh vực gì, sự đánh giá, nhìn nhận từ bên ngoài, của người khác là quan trọng nhưng quan trọng hơn chính là niềm say mê tự thân của mỗi người. Trong các trò chơi đối kháng, thắng hay thua quá nhiều đều làm suy giảm động lực chiến thắng và có thể dẫn tới bỏ cuộc. Để duy trì được niềm say mê, chúng ta nên tập trung vào sự trưởng thành, tiến bộ của bản thân hơn là sự đánh giá của người ngoài. Nói theo đạo Khổng là chúng ta cần “sửa mình” mỗi ngày.
  • Theo đuổi một lĩnh vực trong thời gian dài là chưa đủ để trở thành một người thực sự “mạnh”. Vì sao có những người học/làm trong một lĩnh vực trong thời gian dài mà vẫn chưa giỏi. Lý do chính là họ chưa suy nghĩ đủ nhiều về nó. Trong quá trình làm việc/học tập, khi thất bại cũng như khi thành công, luôn cần đặt câu hỏi và suy nghĩ: mình làm như vậy đã tốt chưa?, có phương pháp nào tốt hơn không? Tại sao phương pháp của mình hiệu quả/không hiệu quả. Không chỉ vậy, cần liên tục thử nghiệm những phương pháp, cách tiếp cận mới, cách suy nghĩ mới, cách giải quyết vấn đề mới.
  • Mỗi ngày cố gắng phát hiện ra một điều mới. Những phát hiện này không nhất thiết phải là những điều gì to tát, có khi chỉ là những ý tưởng, cải tiến nhỏ, hoặc những câu hỏi, thắc mắc, nghi vấn. Ghi lại vào cuốn sổ nhỏ, điện thoại hay bất kỳ các phương tiện nào bạn thấy tiện lợi. Định kỳ đọc lại các ghi chép này (định kỳ 1 hoặc 2 tháng).
  • Không bị ám ảnh bởi các thành công nhỏ, mang tính tức thời mà cần tập trung vào rèn luyện “nội lực”, kỹ năng cho những thành công lớn.
  • Nguyên tắc 7:3. Nguyên tắc này có ý nghĩa là trong công việc có những những phần việc mang tính chất cơ bản, “phải làm”, có những phần việc mang tính “thử thách”, “sáng tạo”. Dành 70% sức lực, thời gian cho các công việc cơ bản, “phải làm” hàng ngày và 30% cho các thử nghiệm mới mang tính chất thử thách, sáng tạo. Nói cách khác, phần 70% là để duy trì công việc, còn phần 30% là phần nhằm tạo ra sự khác biệt giữa bạn và người khác.

========================

* Daigo Umehara còn xuất bản nhiều cuốn sách về quá trình rèn luyện, phấn đấu của anh. Cuốn mới nhất là “1日ひとつだけ、強くなる。” (nghĩa là mỗi ngày một phát hiện sẽ làm bạn mạnh hơn).

* Đọc thêm bài phỏng vấn cũ hơn của Daigo Umehara:
介護の世界から返り咲いた鬼才プロゲーマー 新世代リーダー プロゲーマー ウメハラダイゴ (bản tóm tắt bằng tiếng Anh: Daigo Umehara: ‘I’ve never thought of myself as talented’, talks about his gaming career and views on what winning means)

Đọc sách gì trong năm mới 2016?

Dịp bắt đầu năm mới là dịp chúng ta thường lên các kế hoạch cho cả một năm. Đó có thể là những mục tiêu về công việc, học tập, phát triển bản thân và cuộc sống. Trong công việc, học tập và phát triển bản thân, một điều không thể thiếu đó là đọc sách. Không cần nói, chắc ai cũng hiểu được lợi ích của việc đọc sách. Hiện nay, sách vở ngày càng phong phú, và số lượng sách miễn phí trên mạng Internet quá nhiều thực sự gây khó khăn trong việc lựa chọn. Trong bài viết này, tôi chọn ra các cuốn sách tôi dự định đọc trong năm 2016. Với tốc độ đọc của mình, tôi dự định mỗi tháng sẽ đọc tối thiểu 1 cuốn. Tuy nhiên tuỳ lượng kiến thức trong cuốn sách mà thời gian đọc sẽ xê dịch chút ít.

Theo kinh nghiệm học tập và đọc sách của bản thân, tôi thấy thực sự rất khó để có thể đọc cùng 1 lúc nhiều cuốn sách, nên tại 1 thời điểm tôi sẽ chỉ tập trung đọc cho xong một cuốn sách mà thôi.

Danh sách các cuốn sách của tôi có thể hơi thiên lệch về các cuốn sách tin học, triết học, và các cuốn sách phát triển bản thân. Thực sự rất muốn đọc thêm các sách văn học nhưng thời gian có hạn nên chắc sẽ đợi năm sau vậy.
Chú ý: Các cuốn sách “phải đọc” sẽ được đánh dấu **. Các cuốn sách này, tôi sẽ ưu tiên đọc trước (có 12 cuốn trong diện “phải đọc”)

============================================== Continue reading

Lời khuyên dành cho các bạn sinh viên theo đuổi sự nghiệp khoa bảng

Với các bạn sinh viên có ý định theo đuổi sự nghiệp khoa bảng, nhất định phải học toán cao cấp (đại số, giải tích,…), thuật toán, xác suất thống kê, tối ưu hoá, và lập trình một cách bài bản trong khi còn đang là sinh viên đại học. Sau này thời gian để học bài bản, tuần tự, và chậm rãi sẽ ít đi rất nhiều. (Tham khảo bài viết về lộ trình cho người muốn học về Machine Learning)

————————
Những việc mình ước mình đã làm hoặc làm tốt hơn trong thời gian học đại học:
1- Học các môn toán cao cấp/tối ưu hoá,.. bài bản hơn, đặc biệt là đại số tuyến tính
2- Học xác suất/thống kê một cách tử tế
3- Lập trình nhiều hơn
4- Có thời gian thực tập (internship) ở các công ty
5- Lập và tham gia các nhóm học tập
6- Tham gia các dự án mã nguồn mở

Các bạn hay nói các câu nói như “kiến thức học đại học không hữu ích”, hay “toán cao cấp không hữu ích” nên sửa lại thành “VỚI TÔI, kiến thức học đại học không hữu ích”, “VỚI TÔI, toán cao cấp không hữu ích” (vì với người khác nó hữu ích!)

Lời khuyên về cách đọc toán

Theo ý kiến chủ quan của mình người làm công nghệ thông tin/tin học hay ngại đọc các thứ liên quan đến toán. Bản thân mình cũng rất ngại đọc các paper chi chít công thức – và đang muốn thay đổi điều đó.

Liên quan đến đọc toán, mình có đọc được một lời khuyên chí lý. Đọc toán khác với đọc văn, sử, địa – không thể chỉ đọc mà phải chiến đấu thực sự với nó.

Nguồn tham khảo và ảnh:

  1. http://abstrusegoose.com/353
  2. http://mathwithbaddrawings.com/2015/03/17/the-math-major-who-never-reads-math/

——————————

Đừng chỉ đọc; hãy chiến đấu với nó! Đặt câu hỏi của riêng bạn, tự tìm các ví dụ, tự tìm ra cách chứng minh. Liệu giả thiết có cần thiết không? Liệu điều ngược lại có đúng không? Điều gì xảy ra trong những trường hợp đặc biệt kinh điển? Các trường hợp suy biến thì sao? Chứng minh sử dụng giả thiết ở đâu?

Don’t just read it; fight it! Ask your own questions, look for your own examples, discover your own proofs. Is the hypothesis necessary? Is the converse true? What happens in the classical special case? What about the degenerate cases? Where does the proof use the hypothesis?
— Paul R. Halmos

saint_curious_george.png

 

Năm mức ngu dốt (The Five Orders of Ignorance – by Phillip G. Armour)

Càng học, đọc thì càng thấy mình còn dốt. Những thứ tưởng như là cơ bản nhưng thật ra mình vẫn còn chưa tường tận. Copy lại bài này để lấy cảm hứng học tập. “Luôn nhớ học gì cũng phải khởi đầu bằng những yếu tố đầu tiên của môn học ấy. Nghĩa là phải học lại những căn bản sơ đẳng và đừng bao giờ đốt giai đoạn.” (Xem một vài nguyên tắc làm việc trong cuốn sách “Tôi tự học” của Nguyễn Duy Cần)

Update: Để biết mình đang ở mức độ ngu dốt nào, bạn có thể thử các phương pháp sau đây:

  • Thử liệt kê các lý do để chứng minh mình không dốt. Thử nghĩ lại xem bạn đã tìm hiểu, làm việc với kiến thức đó trong bao lâu, có kỹ năng, kinh nghiệm, kiến thức gì về lĩnh vực đó, có cập nhật kiến thức mới không, có sản phẩm cụ thể nào không?
  • Tự kiểm tra (test yourself): Tìm danh sách các bài tập cơ bản và tự giải không có sự trợ giúp của Google hay sách vở. Kiểm tra xem mình có thể làm một cách suôn sẻ không.
  • Tìm hoặc tạo ra một check-list những khái niệm mình cần phải nắm vững (master) trong ngành, xem mình nắm vững được bao nhiêu khái niệm trong đó.
  • Recall – không mở sách vở hoặc mạng Internet, tự mình diễn giải lại các khái niệm cơ bản. Hoặc cách tốt nhất là giảng cho người khác nghe. Nếu bạn không thể giảng cho người khác một cách đơn giản, dễ hiểu – nhiều khả năng bạn chưa hiểu về khái niệm đó và bạn đang ở một mức ngu dốt nào đó.
  • Đọc các bài review xem có bao nhiêu từ khoá mà mình chưa biết

Để biết mình có dốt hay không, cần nhất là bạn phải thành thực với bản thân mình. Trong thực tế, nhiều người hay “lừa” người khác hoặc “tự lừa” bản thân rằng mình rất giỏi về 1 lĩnh vực nào đó.

——————————————————————–

(Nguồn: The Five Orders of Ignorance – by Phillip G. Armour)
(Xem diễn giải tiếng Việt ở blog khoa học máy tính: Năm mức ngu dốt)

  1. 0th Order Ignorance (0OI)— Lack of Ignorance. I have 0OI when I know something and can demonstrate my lack of ignorance in some tangible form, such as by building a system that satisfies the user. 0OI is knowledge. As an example, since it has been a hobby of mine for many years, I have 0OI about the activity of sailing, which, given a lake and a boat, is easily verified.
  2. 1st Order Ignorance (1OI)— Lack of Knowledge. I have 1OI when I don’t know something and can readily identify that fact. 1OI is basic ignorance. Example: I do not know how to speak the Russian language—a deficiency I could readily remedy by taking lessons, reading books, listening to the appropriate audiotapes, or moving to Russia for an extended period of time.
  3. 2nd Order Ignorance (2OI)— Lack of Awareness. I have 2OI when I don’t know that I don’t know something. That is to say, not only am I ignorant of something (for instance I have 1OI), I am unaware of this fact. I don’t know enough to know that I don’t know enough. Example: I cannot give a good example of 2OI (of course).
  4. 3rd Order Ignorance (3OI)— Lack of Process. I have 3OI when I don’t know a suitably efficient way to find out I don’t know that I don’t know something. This is lack of process, and it presents me with a major problem: If I have 3OI, I don’t know of a way to find out there are things I don’t know that I don’t know. Therefore, I can’t change those things I don’t know that I don’t know into either things that I know, or at least things I know that I don’t know, as a step toward converting the things I know that I don’t know into things I know. For system development, the “suitably efficient” proviso must be added, since there is always a default 3OI process available: try and build the system. Whereupon the customer can be relied on to inform me of all the things I did not know.
  5. 4th Order Ignorance (4OI)— Meta Ignorance. I have 4OI when I don’t know about the Five Orders of Ignorance. I no longer have this kind of ignorance, and now, neither, dear reader, do you.