Bạn có phù hợp để thành học giả không?

Minh Pham dịch từ bài luận あなたは学者に向いているか?

“Mình có thể tự viết được bài báo khoa học không?”, “bản thân mình có thể trở thành nhà nghiên cứu được không?”, “mình có phù hợp để thành học giả không?”, “mình có năng lực để học lên sau đại học không?”. Cũng có người đầy tự tin vào bản thân rằng “cái gì mình cũng làm được” , nhưng nói chung nếu là người sẽ học tiếp sau đại học hay là người có định hướng trở thành nhà nghiên cứu, chúng ta đều mang với những nỗi bất an như thế.

Tuy chúng ta cần phải quyết định học lên sau đại học trước khi tự mình nhận ra những tố chất để trở thành học giả của bản thân, nhưng nếu chúng ta nhận ra mình không có tố chất của học giả sau khi học lên cao thì đó là một thất bại lớn trong cuộc đời. Cũng giống như rất nhiều lựa chọn nghề nghiệp khác và thậm chí còn ở mức độ cao hơn, việc lựa chọn con đường trở thành học giả có rủi ro. Việc rơi vào cái gọi là “bẫy học cao” và không có một công việc ổn định không phải là hiếm gặp.

Continue reading

Advertisements

Khoảng giữa của nghiên cứu và phát triển

(Minh Pham dịch từ bài blog “研究と開発のはざま“)

Ba năm sau khi lấy bằng tiến sĩ, tôi đã làm việc trong môi trường hàn lâm, nhưng từ tháng tư tới tôi sẽ chuyển sang một doanh nghiệp tư nhân. Tôi đã rất băn khoăn liệu có nên chuyển công việc hay không. Thời điểm đó, vì tôi đã suy nghĩ rất nhiều về công việc nghiên cứu nên tôi thử viết ra một chút.

Trong ngành kỹ nghệ, sự khác biệt của nghiên cứu và phát triển là không có

Tôi cho rằng, (giữa nghiên cứu và phát triển) không có sự khác biệt rõ ràng mà ai cũng thấu hiểu. Nếu có, bạn hãy chỉ cho tôi.

Trong thực tế, hầu hết các nghiên cứu (bài báo khoa học) đều phát triển một cái gì đó, và điều đó cũng không phải là vô ích đối với thế giới. Ngược lại, hầu hết các sản phẩm đều có tính mới (hoặc là có sự khác biệt với những sản phẩm khác). Tất nhiên, tôi nghĩ rằng, tính trung bình, trong lĩnh vực kỹ nghệ, những gì được gọi là nghiên cứu là làm những thứ mang tính cơ sở hơn những gì được gọi là phát triển, nhưng tôi không thể vẽ ra một đường ngăn cách rõ ràng.

Phải chăng hiện đang có phong trào thần thánh hóa quá mức việc nghiên cứu?

Nhiều người hay “bị khen ngợi” “ôi, siêu thế” khi người đó tự giới thiệu mình là nhà nghiên cứu. Được khen như thế thì cũng vui, nhưng thực tế thì cũng chẳng có gì siêu cả. 99% các nhà nghiên cứu đang làm những nghiên cứu không có ảnh hưởng (impact) gì đến thế giới và đang viết những bài báo không có ảnh hưởng gì. Điều đó được gọi là siêu ư? Một mặt, có rất nhiều người đang phát triển những sản phẩm mang lại rất nhiều tác động đến thế giới. Nói tóm lại, ý tôi muốn nói là việc cho rằng “nghiên cứu thì giỏi, siêu hơn phát triển” là hoàn toàn không có, và sự khác biệt giữa chúng (trong ngành kỹ nghệ) cũng không có.

Nghiên cứu là gì?

Vậy thì, nghiên cứu là gì? Định nghĩa này phụ thuộc vào cách nắm bắt của bản thân mỗi người. Nếu bản thân mình nghĩ đó là nghiên cứu thì đó là nghiên cứu. Bởi chúng ta không thể vẽ được một đường phân định khách quan (giữa nghiên cứu và phát triển) nên điều đó là đương nhiên.

Đối với bản thân tôi, khi suy nghĩ về câu hỏi “nghiên cứu là gì” thì tôi nghĩ rằng nghiên cứu là việc “đưa ra, đem lại những thành quả mà khiến bản thân cảm thấy phấn khích.” Ít nhất là với bản thân mình, nếu mình không thấy thích thú thì không có ý nghĩa gì, nếu không có thành quả thì cũng chẳng nghĩa lý gì.

Trong việc làm cho bản thân thấy phấn khích, việc tìm ra vấn đề mà bản thân muốn giải quyết, tìm ra câu hỏi mà bản thân muốn trả lời là bắt buộc. Và bạn phải giải quyết được vấn đề (mà bạn tìm ra) đó. Để làm cho bản thân thấy thích thú, chính bạn cũng phải thấy thỏa đáng với phương pháp giải quyết vấn đề. Để bản thân thấy thỏa đáng, bạn cũng phải làm cho người khác thấy thỏa đáng. Chính xác là, bạn không thể thỏa mãn với những kết quả của mình mà người khác thấy chưa thuyết phục. Khi người khác không thấy thuyết phục, khả năng có chỗ nhảy cóc ở đâu đó trong logic của bạn.

Nói tóm lại, tôi nghĩ rằng định nghĩa nghiên cứu ở trong mỗi bản thân chúng ta là việc “tìm ra vấn đề mà mình thấy phấn khích, giải quyết nó ở dạng thức mà người khác cũng thấy thuyết phục”.

Công việc nghiên cứu gặp khó khăn nếu không có câu hỏi lớn

Việc duy trì công việc nghiên cứu là rất khó nếu bạn không có vấn đề mà khiến bạn thấy phấn khích và cần khoảng 5 năm để giải quyết.

Nếu không có câu hỏi lớn, bạn chỉ tìm được vấn đề vừa phải, hoặc là là giải quyết những vấn đề mà người khác đưa cho, bạn sẽ trở thành người chuyên giải quyết vấn đề. Nếu chỉ đơn thuần là đi giải quyết vấn đề thì ở đâu bạn cũng có thể làm được. Nếu bạn dồn sức vào giải quyết những vấn đề mà ngay lập tức có thể giải quyết được, bạn không tận dụng được lợi điểm của nghiệp nghiên cứu. Nếu ngay lập tức có thể giải quyết được, có lẽ chúng ta nên làm vào ngày nghỉ thứ bảy, chủ nhật giống như khi một sở thích.

Điểm tốt của nghiệp nghiên cứu là bạn có nhiều tự do.

Bởi vì không dễ gì để được tự do quyết định việc mình sẽ làm, tôi muốn làm những nghiên cứu thú vị. Bởi vì không dễ gì có được thời gian mà mình có thể sử dụng một cách tự do, tôi muốn dùng vào những việc mình thích. Tự mình nỗ lực giải quyết những vấn đề khiến bản thân mình phấn khích. Tôi nghĩ rằng không có công việc nào thú vị bằng như vậy. Thực tế, tôi đã rất vui khi tìm thấy vấn đề thú vị và giải quyết nó.

Trong việc tìm ra những câu hỏi lớn, việc hiểu sâu sắc những điều về thế giới xung quanh là cần thiết.

Cái gì là thú vị đối với bản thân, xét đến cùng, nó nằm trong những giá trị quan bạn đã tạo nên từ trước đến nay. Nếu chúng ta không nghĩ ra dù có suy nghĩ nhiều thì có lẽ là chúng ta sẽ không nghĩ ra được. Do tầm hiểu biết của chúng ta còn hẹp. Có lẽ chúng ta sẽ tìm ra những điều thú vị mà chúng ta không bao giờ nghĩ đến trước đây khi mở rộng tầm hiểu biết. Mở rộng lĩnh vực nghiên cứu là điều khó, nhưng nếu chúng ta làm những điều mới mẻ dù ít hay nhiều tầm nhìn của chúng ta sẽ rộng mở và khả năng chúng ta tìm được những vấn đề thú vị sẽ tăng lên.

Tổng kết

Nếu chúng ta có vấn đề mà từ trong đáy lòng của bản thân muốn giải quyết thì việc theo nghiệp nghiên cứu là tuyệt vời. Tôi không có công việc nào cho mình lựa chọn như vậy. Nhưng nếu không tìm ra vấn đề như vậy thì tốt hơn là dừng lại một bước. Nếu không có vấn đề như vậy thì giữa nghiên cứu và phát triển không có khác biệt lớn.

Cử nhân, thạc sĩ, và tiến sĩ

Cử nhân, thạc sĩ, và tiến sĩ
(Dịch từ: http://tinyurl.com/ya55jj4h)
—-
Tôi đã thử suy ngẫm về sự khác nhau giữa cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ.
1) Cử nhân
Có thể tự mình đọc bài báo khoa học và thực hiện những thử nghiệm bổ sung. Không nhất thiết phải theo đuổi những kết quả nghiên cứu tốt nhất nhưng cũng phải nắm bắt được những nghiên cứu tiêu biểu trong những năm gần đây.
2) Thạc sĩ
Có thể tiếp cận về mặt lý luận những vấn đề chưa được giải quyết (dù nhỏ cũng được); có thể tự mình thực hiện thực nghiệm và quan sát để kiểm chứng những giả thuyết được lập nên.
3) Tiến sĩ
Thử thách bằng cách tiếp cận độc đáo, sáng tạo với những vấn đề được nhận thức là vấn đề chung trong lĩnh vực nghiên cứu. Ví dụ, dù không giải quyết được vấn đề, nhưng cách tiếp cận tự nó ẩn chứa khả năng áp dụng sang vấn đề khác.
Trong thế giới này, có những công việc đòi hỏi thời gian. Nếu (chúng ta) vội vàng tiến lên những giai đoạn tiếp theo một cách vô lý thì về sau sẽ phải trả giá. Nếu bạn là típ người như vậy thì tôi nghĩ rằng bạn tốt nhất là theo con đường khác.

Bằng tiến sĩ

Chỉ là một giấy phép (license) trong nghiệp nghiên cứu. Nó không phải là một chứng nhận rằng bạn là bậc thầy trong ngành mà mang nghĩa giống như giấy phép lái xe hay chứng chỉ hành nghề bác sĩ. Không có nó, chúng ta vẫn có thể nghiên cứu. Nhưng sau đó, bạn có thể bị đặt câu hỏi là vì sao bạn không có nó. Trường hợp tôi cố gắng lấy bằng tiến sĩ đó là, tôi đã xấu hổ khi được giới thiệu trong hội nghị quốc tế: “diễn giả tiếp theo là tiến sĩ Kazawa. (những diễn giả từ doanh nghiệp và không có bằng tiến sĩ cũng không có gì dở cả). Điều đấy đã làm tôi khó chịu.

Checklist cho luận văn thạc sĩ

Checklist cho luận văn thạc sĩ (Cho các sinh viên đang viết luận văn thạc sĩ)

  1. Có thực hiện lại được không? (Reproducibility). Để thực hiện lại được, nên cố gắng đóng gói chương trình sao cho với mỗi kết quả trong luận văn thạc sĩ, chỉ cần chạy một script duy nhất để tái hiện lại được các kết quả từ dữ liệu thô. Ngay cả các bảng số liệu, hình vẽ cũng nên sinh ra bằng chương trình máy tính.
  2. Có tính mới mẻ không? (Novelty). Có tính mới mẻ về mặt khoa học là yêu cầu dành cho những luận văn thạc sĩ xuất sắc. Nhưng luận văn thạc sĩ cũng nên cũng có tính mới về mặt thực hành.
  3. Đã chỉnh sửa lại nhiều lần chưa? Không chỉ tự mình chỉnh sửa mà nên nhờ thầy hướng dẫn và nhiều người khác mà mình tin cậy đọc và chỉnh sửa giúp.
  4. Đã hiểu rõ các nghiên cứu trước chưa?
  5. Tự bạn đánh giá xem mình có đủ điều kiện tốt nghiệp thạc sĩ chưa?

Bài viết dựa trên nguồn tiếng Nhật: 【卒論修論のさしすせそ】https://twitter.com/nh_m_/status/423322673993633792
さ:再現性あるの
し:新規性あるの
す:推敲は何度もしましたか
せ:先行研究ちゃんと理解してるの
そ:卒業できると思ってるの
#noted #teaching

Mastering Programming

Dịch từ bài viết “Mastering Programming” của tác giả Kent Beck.

Qua nhiều năm quan sát những lập trình viên bậc thầy, tôi đã nhận thấy những mô thức chung trong quy trình làm việc của họ. Qua nhiều năm huấn luyện những lập trình viên ở mức thạo nghề, tôi đã nhận thấy sự thiếu vắng những mô thức đó. Tôi đã thấy sự khác biệt (mà) khởi đầu cho những mô thức đó, có thể tạo ra.

Đây là những cách thức mà những lập trình thu được hiệu quả tốt nhất có thể từ hơn 3 tỉ giây quý báu của họ ở trên trái đất này (ý nói là thời gian trong 1 năm – lời người dịch).
Bài luận này sẽ làm bạn sáng tỏ hơn về những điều đó. Một “công nhân thạo nghề” học cách giải quyết những vấn đề lớn hơn bằng cách cùng một lúc giải quyết nhiều vấn đề hơn. Một bậc thầy học cách giải quyết những vấn đề còn lớn hơn thế bằng cách giải quyết ít vấn đề hơn cùng một lúc. Các phần của lời khuyên này sẽ được chia nhỏ sao cho việc tích hợp những giải pháp riêng biệt sẽ là một vấn đề nhỏ hơn việc chỉ giải quyết chúng đồng thời.

Thời gian

  • Phân chia. Lấy một dự án lớn, cắt nó thành các phần nhỏ, và sắp xếp lại các phần sao cho phù hợp với hoàn cảnh. Tôi luôn có thể phân chia các dự án nhỏ hơn và luôn tìm thấy những cách thay đổi trật tự của các phần mà phù hợp với các nhu cầu khác nhau.
  • Một việc tại một thời điểm. Chúng ta tập trung vào tính hiệu quả đến mức chúng ta giảm số lượng số vòng phản hồi (feedback cycles) trong một nỗ lực để giảm tổng chi phí. Điều này dẫn đến những tình trạng gỡ lỗi phức tạp mà chi phí của nó có thể còn lớn hơn tổng phí về số vòng phản hồi mà chúng ta đã tránh.
  • Viết chương trình chạy được, chạy đúng, và chạy nhanh (Make it run, make it right, make it fast). (Ví dụ của một việc tại một thời điểm, phân chia công việc, và dễ dàng sửa đổi).
  • Những sửa đổi dễ dàng. Khi bạn phải đối mặt với một sự thay đổi phức tạp, đầu tiên hãy làm cho nó dễ đi (tôi cảnh báo rằng điều này có khó), sau đó thực hiện việc sửa đổi dễ (ví dụ: phân chia công việc, làm một việc tại một thời điểm, tập trung, và sự cô lập. Đây là một ví dụ của việc phân chia công việc.
  • Sự tập trung. Nếu bạn cần thay đổi một vài thành phần, đầu tiên hãy sắp xếp lại mã chương trình sao cho sự thay đổi chỉ cần xảy ra trong một thành phần.
  • Sự cô lập. Nếu bạn chỉ cần thay đổi một phần của một thành tố, hãy trích xuất thành tố đó ra để thay đổi trên toàn bộ thành tố con đó.
  • Quản lý các hệ thống cơ sở. Bắt đầu các dự án bằng việc so sánh với những hệ thống đã có. Điều này có thể chống lại thiên hướng muốn bắt đầu sửa chữa mọi thứ của chúng ta, nhưng khi bạn xem xét các hệ thống cơ sở, bạn sẽ thực sự biết liệu có đúng là bạn đang làm công việc sửa chữa những thứ hiện có không.

Học tập

  • Trước khi thực thi chương trình, dự đoán chính xác điều gì sẽ xảy ra.
  • Các giả thuyết cụ thể. Khi chương trình hoạt động không đúng, hãy minh định những gì bạn cho là sai trong chương trình trước khi thực hiện sự thay đổi. Nếu bạn có hai hay nhiều hơn các giả thuyết, hãy phân tích sự khác biệt giữa các giả thuyết đó.
  • Loại bỏ chi tiết không liên quan. Khi báo cáo một lỗi, hãy tìm những bước ngắn nhất để sinh lại lỗi đó. Khi cô lập một lỗi, hãy tìm những ví dụ (test case) ngắn nhất. Khi sử dụng một API mới, bắt đầu từ những ví dụ đơn giản nhất. “Tất cả những thứ này không thành vấn đề” là một giả thuyết quá mạnh và có khi là sai lầm.
    • Ví dụ, hãy xem một lỗi trên mobile, sinh lại nó với chương trình curl.
  • Đa quy mô. Di chuyển tự do giữa các quy mô (ví dụ khi thực thi trên dữ liệu nhỏ sang thực thi trên dữ liệu lớn — cách hiểu của người dịch). Có thể đây là một vấn đề thiết kế, không phải là vấn đề kiểm thử. Có thể vấn đề này liên quan đến con người chứ không phải là một vấn đề công nghệ [Lừa đảo, điều này luôn đúng].

Những thứ vượt trên cả logic

  • Tính đối xứng. Những thứ gần như nhau có thể phân chia chia thành những phần giống hệt nhau và những phần khác biệt rõ ràng.
  • Tính thẩm mỹ.
  • Nhịp điệu. Chờ đợi cho đến thời điểm đúng bảo toàn năng lượng và tránh sự lộn xộn.
  • Cân bằng (tradeoffs). Tất cả những quyết định là chủ đề của việc tradeoff. Quan trọng hơn là biết quyết định phụ thuộc vào cái gì hơn là biết câu trả lời bạn lựa chọn hôm nay (hoặc câu trả lời này bạn đã lựa chọn hôm qua).
  • Danh sách niềm vui (Fun list). Khi các ý tưởng không thứ tự đến, hãy ghi chép chúng và quay trở lại làm việc nhanh chóng. Xem lại danh sách khi bạn tạm dừng.
  • Chăm sóc các ý tưởng. Các ý tưởng giống như là những chú chim nhỏ dễ sợ hại. Nếu bạn doạ chúng đi, chúng sẽ dừng việc đến với bạn. Khi bạn có một ý tưởng, hãy chăm chút nó một chút. Kiểm chứng để loại bỏ chúng nhanh nhất có thể, nhưng từ dữ liệu chứ không phải là từ sự thiếu sự say mê.
  • Nguyên tắc 80/15/5. Sử dụng 80% thời gian của bạn cho những công việc nguy cơ thấp hoặc những công việc được trả lương vừa phải. Sử dụng 15% thời gian của bạn cho các việc nguy cơ cao/trả lương cao có liên quan. Sử dụng 5% thời gian của bạn cho những việc làm cho bạn thích thú, không quan tâm tới kết quả. Hãy dạy những người tiếp nối bạn làm 80% công việc của bạn. Vào thời gian ai đó sẵn sàng để đảm nhận công việc, một trong số 15% thí nghiệm của bạn (hoặc ít thường xuyên hơn, một trong số 5% thí nghiệm) sẽ cho kết quả và trở thành phần 80% của bạn. Lặp lại điều đó.

Kết luận

Dòng chảy trong trong bản phác thảo này dường như bắt đầu từ việc giảm nguy cơ bằng việc quản lý thời gian đến việc chấp nhận mạo hiểm một cách có ý thức bằng cách sử dụng toàn bộ não bộ và nhanh chóng quyết định độ ưu tiên của các ý tưởng.

Để công việc nghiên cứu tiến triển, điều gì là quan trọng nhất?

Dịch từ bài viết “研究を前にすすめるためには「何」が最も重要か?” đăng trên trang blog của Nakahara Lab.

Đây là câu chuyện mới xảy ra cách đây không lâu. Một sinh viên sau đại học đang bế tắc trong nghiên cứu và đã đến tham khảo ý kiến tôi. Đây là một điều khá bất ngờ với tôi, nên chủ đề câu chuyện đã phát triển như sau đây.

“Vậy thì, thưa giáo sư, để làm nghiên cứu tốt thì điều gì là quan trọng?”

“Uhm… Cái gì nhỉ (cười). Thầy cũng đang muốn được nghe đây…
Cho đến bây giờ, với người chưa từng thực sự cảm thấy cái gọi là “nghiên cứu tốt” như thầy thì cũng khó trả lời cho câu hỏi của em đấy (cười).”

Nhưng ở đây, nếu thay đổi câu hỏi đi một chút, tôi sẽ nói với các bạn còn đang băn khoăn như sau. “Nếu bạn hỏi, “để sinh viên sau đại học đạt được tiến triển trong việc nghiên cứu, điều gì là quan trọng?, thì tôi sẽ trả lời được.”

Trong các nghiên cứu ở các bậc thạc sĩ hay tiến sĩ, hơn thế nữa, trong những nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực của tôi, nếu bạn hỏi “Để có tiến triển trong nghiên cứu, điều gì là quan trọng?” thì tôi với khoảng 10 năm kinh nghiệm hướng dẫn sinh viên ở bậc sau đại học có thể nhanh chóng đưa ra câu trả lời của riêng mình. Continue reading

Cách trình bày báo cáo khoa học

Dịch từ bài viết “Giving a technical presentation (giving a scientific talk)” của giáo sư Michael Ernst, khoa khoa học máy tính, đại học Washington.

Mở đầu

(Bạn có thể đọc thêm các lời khuyên của tôi về thuyết trình khi ứng tuyển công việccách làm poster).

Có rất nhiều tài liệu tham khảo tốt liên quan đến cách thuyết trình hiệu quả. Ở đây, thuyết trình mang ý nghĩa là một bài thuyết trình về kết quả nghiên cứu khoa học, có thể là ở một hội nghị, cho nhóm nghiên cứu của bạn, hoặc thuyết trình với tư cách diễn giả khách mời ở trường đại học hay lab nghiên cứu khác. Bài viết này không thể thay thế những tài liệu tham khảo đó, nhưng nó sẽ ghi lại vắn tắt một vài vấn đề tôi rất thường xuyên nhìn thấy ở các buổi thuyết trình. Continue reading