Cách viết một bài báo khoa học

Dịch từ tài liệu “Writing a Technical Paper” của Michael Ernst, giáo sư ngành khoa học máy tính, đại học Washington, Mỹ.

Tài liệu này vạch ra một vài phương pháp đơn giản, cụ thể để nâng cao chất lượng viết lách của bạn, bằng cách tránh một số lỗi phổ biến. Phần cuối của tài liệu có thêm những tài nguyên để cải thiện công việc viết lách.

Một số người tin rằng công việc viết bài báo khoa học, thuyết trình, và những hoạt động mang tính “marketing” tương tự không phải là những phần việc trong nghiên cứu mà chỉ là công việc phụ hoặc thậm chí gây ra những xao nhãng không mong muốn. Quan điểm đó không chính xác. Mục đích của công việc nghiên cứu là mở rộng kho tri thức của nhân loại, và vì thế ngay cả những công trình nghiên cứu tốt nhất cũng thành vô dụng nếu bạn không thể truyền đạt nó một cách hiệu quả ra bên ngoài giới nghiên cứu. Thêm nữa, công việc viết bài báo và thuyết trình sẽ làm sáng tỏ những suy nghĩ của chính bạn và do đó cải thiện chất lượng nghiên cứu của bạn. Bạn có thể ngạc nhiên khi biết việc truyền đạt một cách mạch lạc những ý tưởng và đóng góp của mình khó như thế nào. Thực hiện nó sẽ “ép” bạn hiểu sâu sắc hơn về những ý tưởng và đóng góp của mình trong công trình nghiên cứu và cho phép bạn cải tiến chúng.

Hiểu “thông điệp” bạn muốn truyền tải, và kết nối với nó trong bài báo

Mục tiêu của công việc viết một bài báo khoa học là để thay đổi hành vi của con người, ví dụ, để thay đổi cách suy nghĩ của họ về một vấn đề nghiên cứu hoặc để thuyết phục họ sử dụng một cách tiếp cận mới. Hãy xác định rõ mục tiêu của bạn (mục tiêu này còn được gọi là chính đề), và nêu bật được nó trong bài báo của bạn.

Một nguyên tắc chung là bài báo của bạn cần thuyết phục người đọc ở ba điểm chính: vấn đề nghiên cứu đáng quan tâm, vấn đề khó và bạn đã giải quyết được nó. Nếu một trong những điểm này bị thiếu hoặc không rõ ràng, bài báo của bạn sẽ không đủ sức thuyết phục. Bạn sẽ cần thuyết phục người đọc rằng các đóng góp của bạn trong bài báo là mới mẻ. Khi diễn đạt điều đó, có thể hữu ích (cho bạn và cả người đọc) nếu bạn giải thích lý do vì sao trước đó, không có ai đã nghĩ đến cách tiếp cận của bạn. Bạn cũng nên luôn ghi nhớ bạn đã mong đợi người đọc thay đổi hành vi, suy nghĩ như thế nào một khi họ hiểu được giá trị của những đóng góp của bạn.

Trước khi bạn viết một bài báo, bạn cần hiểu độc giả của mình. Ai sẽ đọc bài báo của bạn? Kiến thức, nền tảng, kinh nghiệm của họ là gì? Động cơ, mối quan tâm, và niềm tin của họ là gì? Bạn muốn người đọc nhận được những điểm mấu chốt nào từ bài báo? Một khi bạn hiểu được chính đề và người đọc của mình, bạn có thể minh định những luận điểm nào bạn nên đề cập trong bài báo để đạt được mục đích đó.

Đối với mỗi luận điểm trong bài báo của bạn, bạn cần trả lời cả hai câu hỏi cái gì (what) và tại sao (why). Bắt đầu với câu hỏi “cái gì”, nhưng không được bỏ sót “tại sao”. Cũng như vậy, chỉ đưa ra số liệu, biểu đồ, hình vẽ và giải thích cho người đọc những số liệu, biểu đồ, hình vẽ đó nói gì là không đầy đủ. Bạn cần đảm bảo rằng người đọc hiểu về tầm quan trọng và những ý nghĩa ẩn dưới số liệu, biểu đồ, hình vẽ đó và phần nào trong đó là quan trọng nhất.

Đưa vào bài báo nội dung gì?

Mục đích của bạn là truyền đạt một số ý tưởng nhất định, và tất cả nội dung trong bài báo của bạn nên đóng góp vào mục tiêu đó. Nếu bất kỳ phần nào trong bài báo không đóng góp vào mục tiêu đó, hãy xoá hoặc sửa phần đó. Bạn phải nhẫn tâm một chút khi cắt bỏ những chi tiết không cần thiết, không liên quan và điều đó là cần thiết. Tất cả những chi tiết dư thừa, không hỗ trợ cho luận điểm chính trong bài báo sẽ làm người đọc sao lãng khỏi nó.

Hãy viết cho độc giả hơn là viết cho bản thân bạn. Đặc biệt, hãy suy nghĩ xem cái gì có là quan trọng với độc giả bạn hướng tới, và tập trung vào đó. Nó không nhất thiết phải là những gì cá nhân bạn thấy hấp dẫn.

Một lỗi phổ biến (khi viết) là việc tập trung vào những phần công việc bạn bỏ thời gian vào nhiều nhất. Đừng làm bài báo khoa học giống như một bài trần thuật theo thứ tự thời gian tất cả những gì bạn đã thử nghiệm, và đừng dành số trang của bài báo theo tỷ lệ thuận với lượng thời gian bạn đã bỏ ra cho mỗi phần việc. Hầu hết công việc bạn sẽ làm sẽ không xuất hiện trong các bài báo; mục đích của việc xây dựng hạ tầng và “mò mẫm”, thử nghiệm khi làm nghiên cứu là để cho phép bạn thực hiện những phần việc nhỏ nhưng quan trọng và đáng để viết trong bài báo. Nói cách khác, mục đích của bài báo khoa học không phải là để mô tả những gì bạn đã làm, mà để truyền đạt cho đọc giả về những kết quả nghiên cứu thành công và có ý nghĩa quan trọng, và thuyết phục độc giả về tính hợp lý của những kết luận.

Cũng như thế, đừng chăm chú vào những chi tiết về cài đặt hoặc về những thí nghiệm trừ khi trong chừng mực nào đó nó đóng góp vào luận điểm chính của bài báo. Đây là một lời khuyên đặc biệt quan trọng trong công việc viết tài liệu phần mềm, trong đó bạn cần tập trung vào những lợi ích của phần mềm đối với người dùng, và cách sử dụng nó hơn là cách bạn đã cài đặt nó như thế nào. Tuy nhiên, lời khuyên này cũng đúng đối với các bài báo khoa học — và bạn hãy luôn ghi nhớ rằng độc giả mong chờ những điều khác nhau trong hai loại công việc viết lách đó.

Độc giả quan tâm đến những gì hiệu quả, và tại sao nó hiệu quả, nên bạn hãy bắt đầu từ điều đó. Nếu bạn thảo luận cách cách tiếp cận đã thất bại, hãy viết ngắn gọn, và cách làm điển hình là viết về nó sau khi bạn đã bàn luận về cách tiếp cận thành công. Hơn thế nữa, thảo luận đó nên tập trung vào những khác biệt với cách tiếp cận thành công và nếu có thể bạn nên cung cấp những nguyên tắc và bài học đã rút ra – những nội dung sẽ mang lại hiểu biết sâu sắc và giúp cho những người khác tránh những công việc “mò mẫm” kém hiệu quả tương tự trong tương lai.

Mỗi khi bạn giới thiệu một cách tiếp cận sai lầm hoặc tồi hơn, hãy nói rõ điều đó trước. Độc giả sẽ (và nên) giả sử rằng những gì bạn viết trong bài báo là những gì bạn đặt niềm tin và ủng hộ, trừ khi chúng được chỉ rõ là không phải thế. Một bài báo không bao giờ nên trình bày chi tiết một kỹ thuật, sau đó chỉ ra (mà không báo trước) rằng kỹ thuật đó là sai lầm và tiếp tục thảo luận những kỹ thuật khác. Những sự bất ngờ đó sẽ gây khó hiểu cho độc giả có thể khiến họ phát cáu. Lỗi này thường được gọi là “leading the reader down the garden path” (lời người dịch: thành ngữ này có nghĩa là đưa ra những chỉ dấu, thông tin sai khiến người khác khiến họ tốn thời gian).

Khi có nhiều cách tiếp cận khác nhau cho một vấn đề, cách làm được ưa thích hơn là giới thiệu cách tiếp cận tốt nhất hoặc cách tiếp cận thành công trước tiên. Thông thường, chúng ta thậm chí không cần thảo luận những cách tiếp cận khác. Nếu bạn thảo luận (cách tiếp cận kém hơn hoặc không hiệu quả — lời người dịch), thông thường bạn nên để chúng ở sau, chứ không phải trước cách tiếp cận thành công. Bài báo khoa học của bạn đưa ra những chi tiết quan trọng nhất trước tiên, và những chi tiết kém quan trọng nên được viết sau. Dòng luận điểm chính nên chảy một cách mạch lạc thay vì bị ngách quãng. Phát biểu một giải pháp chưa tốt (với sự chỉ dẫn rõ ràng rắng nó là giải pháp chưa tốt) trong phần đầu tiên có thể chấp nhận được nếu nó là phiên bản đơn giản hơn của giải pháp đầy đủ của bạn và giải pháp đầy đủ là phiên bản được chỉnh sửa trực tiếp từ phiên bản đơn giản hơn đó. Một cách viết ít phổ biến hơn đó là bạn có thể phát biểu giải pháp chưa  tốt trước tiên nếu nó là một giải pháp rõ ràng mà mọi độc giả sẽ cho rằng đó là giải pháp thích hợp; nhưng hãy cẩn trọng khi áp dụng cách viết với tư duy này, vì bạn luôn sai lầm khi nghĩ rằng tất cả mọi độc giả sẽ có thể nhảy đến ngay phần kết luận bạn đưa ra. (lời người dịch: ý tác giả muốn nói khi độc giả nghĩ rằng giải pháp chưa hoàn hảo bạn giới thiệu trước tiên là hợp lý rồi thì có thể sẽ rất khó để thuyết phục họ tin vào giải pháp bạn đề xuất).

Cấu trúc bài báo rõ ràng với kết quả nghiên cứu được làm rõ

Một bài báo khoa học nên truyền đạt một cách sáng sủa những ý tưởng chính của nghiên cứu của bạn (như những phương pháp kỹ thuật và kết quả) ngay từ đầu. Sau đó, phần thân bài của bài báo có thể triển khai từ những luận điểm này; một độc giả hiểu cấu trúc và các ý tưởng chính có thể hiểu rõ hơn giá trị của những nội dung chi tiết. Nói cách khác, bạn nên tiết lộ điểm mấu chốt của câu chuyện bạn muốn kể trước tiên. Một bài báo khoa học không phải là một câu chuyện cười hay một tiểu thuyết trinh thám. Người đọc không nên gặp phải bất kỳ sự bất ngờ nào. Phần thân bài chỉ nên có những lý giải sâu sắc hơn về những gì đã được giới thiệu trong những phần trước đó. Độc giả thực sự rất bực mình khi phần tóm tắt (abstract) hoặc phần mở đầu phát biểu rằng, “Chúng tôi đã đánh giá mối quan hệ giữa chứng rụng tóc và nghề nuôi ong”, với các kết quả chính bị che giấu đâu đó trong các trang tiếp theo của bài báo. Một bản tóm tắt tốt hơn sẽ như sau, “Những người nuôi ong là nam giới có nhiều hơn 25% nguy cơ bị hói (p=0.04), nhưng không có bất kỳ sự tương quan có ý nghĩa thống kê nào đối với người nuôi ong là nữ giới”.

Một lời khuyên giống như trên cũng áp dụng được ở mức tiết đoạn (section) và đoạn văn (paragraph). Sẽ rất tệ nếu bạn bắt đầu (tiết đoạn hay đoạn văn) với một đống các nội dung chi tiết và chỉ đến cuối cùng (của tiết đoạn hay đoạn văn) bạn mới nói với độc giả ý chính là gì hoặc các nội dung chi tiết đó liên quan thế nào đến một ý khác. Thay vì làm như thế, hãy phát biểu luận điểm trước tiên và sau đó bổ sung cho nó. Độc giả có lẽ sẽ hiểu rõ bằng chứng nào là quan trọng và tại sao, và đỡ bị rối trí hoặc cảm thấy thất vọng.

Với mỗi tiết đoạn (section) của bài báo khoa học, cân nhắc viết một giới thiệu ngắn mô tả về cấu trúc của tiết đoạn, những nội dung gì có trong các phân đoạn, và các phần đó liên quan như thế nào với nhau. Với cả bài báo, phần này có thể viết trong một đoạn văn. Đối với tiết đoạn và phân đoạn, nó có thể được viết ngắn gọn trong một câu. Bạn có thể cảm thấy điều này là dư thừa, nhưng các độc giả không dành nhiều thời gian cho bài báo như bạn, và họ sẽ thực sự tán thưởng những chỉ dẫn giúp họ định hướng trong bài báo của bạn.

Một số người thích viết phần tóm tắt và thường cả phần giới thiệu sau cùng. Làm như thế khiến họ dễ viết hơn vì các phần còn lại của bài báo đã hoàn thành và chỉ cần được mô tả (trong phần tóm tắt và phần giới thiệu). Tuy vậy, tôi thích viết những tiết đoạn đó (phần tóm tắt và giới thiệu) đầu tiên trong quá trình viết báo (và sau đó có thể chỉnh sửa nếu cần thiết), vì chúng hình thành lên khung sườn của bài báo. Nếu bạn hiểu rõ cấu trúc và nội dung định viết, việc viết những trang đầu sẽ không tốn nhiều công sức lắm. Nếu bạn không nắm rõ cấu trúc bài báo, sẽ là một cách sử dụng thời gian khôn ngoan khi bạn minh định những thông tin nào sẽ viết trong phần đầu tiên. Viết phần thân bài của bài báo mà không nắm nõ sườn bài về lâu dài sẽ làm bạn tốn thời gian hơn. Nói cách khác, viết bài báo trước sẽ giúp cho việc viết phần tóm tắt nhanh hơn, và viết phần tóm tắt trước sẽ giúp cho việc viết bài báo nhanh chóng hơn. Có nhiều nội dung trong bài báo hơn phần tóm tắt, vì thế hãy bắt đầu viết phần tóm tắt trước và sớm làm rõ luận điểm chính của bài báo.

Một lỗi rất phổ biến là sa đà vào cách tiếp cận mang tính kỹ thuật hay những chi tiết cài đặt mà không trình bày vấn đề một cách hợp lý, cung cấp những lý do thực hiện nghiên cứu và các kiến thức nền (background). Người đọc cần hiểu vấn đề là gì trước khi họ bị thuyết phục rằng họ nên chú ý đến những gì bạn sẽ nói về nó. Trước tiên, bạn nên phát biểu đâu vấn đề và mục tiêu của bài báo, — thậm chí khi trình bày một thuật toán — trước hết hãy phát biểu đầu ra là gì và có lẽ cả ý tưởng chính trước khi thảo luận các bước (trong thuật toán). Tránh cung cấp những thông tin không hữu ích với độc giả/người dùng. Nó chỉ làm cho độc giả sao lãng khỏi những nội dung chính.

Bắt đầu: vượt qua trở ngại và sự trì hoãn

Một vài người viết thấy khó khăn để bắt đầu công việc viết lách do có quá nhiều ý tưởng hoặc không biết bắt đầu từ đâu. Đừng lo lắng! Đây là một số “mẹo” để giúp bạn bắt đầu công việc. Một khi bạn đã bắt đầu viết, bạn sẽ thấy việc sửa những ghi chú hay bản nháp đầu tiên của bạn dễ dàng hơn nhiều (so với việc cố gắng viết chuẩn ngay từ đầu — lời người dịch). Ý tưởng mấu chốt là hãy viết gì đó, và bạn có thể cải thiện nó sau.

Bắt đầu bằng cách nói ra (Start verbally). Hãy giải thích với người khác những gì bài báo cần nói. Sau khi cuộc thảo luận kết thúc, ghi chép lại những gì bạn vừa nói, tập trung vào những luận điểm chính hơn là từng từ ngữ mà bạn đã nói. Rất nhiều người cảm thấy nói dễ hơn là viết. Hơn thế nữa, nhận phản hồi và làm sáng tỏ, rõ ràng hơn các ý tưởng sẽ giúp bạn nhận ra các vấn đề trong các lập luận, giải thích, hoặc lựa chọn từ ngữ của mình.

Phác thảo (Outline). Bạn có thể thấy chưa sẵn sàng để viết các đoạn văn tiếng Anh hoàn chỉnh, nhưng bạn có thể quyết định việc bài báo của bạn có những tiết đoạn (section) nào và đặt những tiêu đề có ý nghĩa cho những đoạn đó. Một khi bạn đã xác định xong cấu trúc của các tiết đoạn, bạn có thể phác thảo chút ít nội dung của mỗi tiết đoạn, tức là xác định các đoạn con (subsection) và tiêu đề cho chúng. Bây giờ, hãy mở rộng thêm phác thảo đó thành một câu chủ đề cho mỗi đoạn văn. Tại thời điểm này, vì bạn biết chính xác chủ đề cho mỗi đoạn văn, bạn sẽ thấy dễ dàng để viết đoạn văn đó.

Ghi chép các dòng suy nghĩ (stream-of-consciousness notes). Chi chép tất cả những gì bạn biết, không cần theo thứ tự hay định dạng gì đặc biệt cả. Sau đó, sắp xếp lại những gì bạn viết theo chủ đề, nhóm những luận điểm liên quan lại với nhau. Cuối cùng, chuyển các nội dung đó thành một bản phác thảo và tiếp tục các bước như đã trình bày ở trên (trong phần tạo phác thảo). Trong khi ghi chép, bạn hãy sử dụng các cụm từ hay từ khoá, đừng sử dụng các câu đầy đủ. Viết ra các cụm từ nhanh hơn và đỡ làm phân tán quá trình suy nghĩ của bạn (bài viết sử dụng từ brainstorming — lời người dịch). Các cụm từ thường dễ quản lý hơn; và bạn sẽ cảm thấy đầu óc mình ít bị chúng trói buộc hơn và sẵn sàng hơn để xoá chúng khi cần thiết.

Chia để trị (Divide and conquer). Thay vì cố gắng viết toàn bộ bài báo, chọn một phần cụ thể nào đó, và chỉ viết phần đó thôi. Sau đó, tiếp tục viết các phần khác.

Dùng lại (Re-use). Tìm lại các văn bản bạn đã viết về chủ đề bạn đang viết và bắt đầu từ đó. Một nguồn rất tốt là các báo cáo tiến độ  — là những gì bạn viết, đúng không nhỉ? Nó có thể nhắc bạn đâu là vấn đề khó và đáng quan tâm hoặc những điểm (việc) mà bạn có thể định làm hoặc đã quên làm. Bạn sẽ hiếm khi muốn dùng lại nguyên văn, bởi vì bạn có thể diễn đạt các luận điểm tốt hơn và cũng bởi vì bạn đang viết cho đối tượng độc giả khác hoặc trong các ngữ cảnh khác, trong đó bạn cần các lập luận hay cách diễn đạt khác. Ví dụ, một bài báo khoa học hay một buổi thuyết trình khoa học có các mục tiêu tương tự nhau nhưng có các hình thức khác biệt.

Một điều cốt yếu đó là bạn cần sẵn lòng xoá hoặc viết lại các ghi chép hoặc bản nháp trước đó nếu cần. Một khi bạn đã viết cái gì, bạn có thể viết lại nó (thường là tốt hơn). Trong giai đoạn đầu, điều quan trọng là sắp xếp các ý tưởng của bạn chứ không phải là viết các câu một cách hoàn chỉnh.

Tính khúc chiết (Brevity)

Hãy viết súc tích.Làm sao tất cả mọi từ ngữ đều có vai trò của nó. Nếu một từ không phục vụ cho luận điểm của bạn, hãy loại bỏ nó, vì quá dài dòng và thừa thãi chỉ làm người đọc khó hiểu được các giá trị của thông điệp của bạn hơn. Sử dụng các cụm từ ngắn hơn và trực tiếp hơn ở bất kỳ chỗ nào bạn có thể.

Hãy viết sao cho súc tích và hướng tới luận điểm chính. Loại bỏ các đoạn không hỗ trợ cho luận điểm của bạn. Sau đây là một cách để bạn có thể thực hiện điều này; nó có thể hơi tốn thời gian nhưng cực kỳ hiệu quả. Đầu tiên, lần lượt kiểm tra mỗi tiết đoạn (section) của bài báo và hỏi xem nó đóng vai trò gì và liệu nó có đóng góp cho luận điểm chính của bài báo không. Nếu không, hãy xoá nó. Tiếp theo, trong mỗi tiết đoạn, kiểm tra mỗi đoạn văn. Tự hỏi xem liệu đoạn văn đó có đơn chủ đề không. Nếu không, hãy viết lại đoạn văn đó. Tự hỏi xem liệu chủ đề của đoạn văn có đóng góp cho các mục tiêu của tiết đoạn không. Nếu không, hãy xoá đoạn văn đó. Tiếp theo, trong mỗi đoạn văn, kiểm tra từng câu. Nếu nó không diễn đạt một ý đơn lẻ, rõ ràng và củng cố cho nội dung đoạn văn, xoá hoặc viết lại câu đó. Cuối cùng, trong mỗi câu, kiểm tra từng từ, và xoá hoặc thay đổi các từ không phục vụ cho ý chính của các câu đó. Bạn sẽ cần lặp lại toàn bộ quá trình này nhiều lần, và trong khi thực hiện hãy luôn giữ cái nhìn mới mẻ về bài báo của bạn.

Một vài người thấy rằng làm theo cách tiếp cận này theo hướng từ dưới lên (bottom-up) dễ dàng hơn: đầu tiên loại bỏ hay viết lại các từ, sau đó đến câu, đoạn văn, vv.

Phong cách viết

Thể bị động không thích hợp khi viết các văn bản khoa học kỹ thuật. Nó che đi ai là tác nhân, cái gì đã gây ra điều gì, và khi nào nó xảy ra. Hãy sử dụng thể chủ động và cách diễn đạt đơn giản, rõ ràng và trực tiếp.

Ngôi thứ nhất thường không thích hợp với các văn bản khoa học. Ngôi thứ nhất không bao giờ nên được dùng để mô tả hoạt động của một chương trình hay hệ thống. Nó chỉ thích hợp khi mô tả công việc nào đó mà tác giả của bài báo thực hiện một cách thủ công. (Và hãy nhớ lại rằng bài báo khoa học của bạn không nên được viết theo lối văn tường thuật.) Thường ta gây ra hiểu nhầm khi dùng “we”. “We” có thể được hiểu theo nghĩa “the author and the reader” hay với nghĩa “the paper” (trong câu “In this section, we …”) hay thậm chí với nghĩa “the system being described” (ví dụ, câu “we compute a graph” dễ được hiểu theo nghĩa tác giả thực hiện công việc đó một cách thủ công). Một điểm khác nữa là đừng nhân cách hoá các máy móc: chúng rất ghét điều đó. Nhân cách hoá, ví dụ, nghĩa của câu “the program thinks that …” là mơ hồ, không rõ ràng.

Tránh khuếch khoác, tự tâng bốc, đánh giá đúng sai những thứ liên quan đến quan điểm giá trị: hãy đưa ra thực tế (facts) và để cho độc giả tự đánh giá.

Không sử dụng những từ như “obviously” hoặc “clearly”, như trong câu: “Obviously, this Taylor series sums to π.” Nếu luận điểm đó thực sự là hiển nhiên, thì bạn đang lãng phí ngôn từ để diễn đạt nó. Và nếu luận điểm đó không hiển nhiên với độc giả – những người không am hiểu sâu sắc về vấn đề chính mà bạn đang mô tả thì bạn đang làm tổn thương độc giả qua việc xúc phạm trí tuệ của họ, và bạn đang bộc lộ sự yếu kém trong cách truyền đạt những ý tưởng có thể hiểu qua trực giác (intuition).

Hãy ưu tiên dùng số ít hơn là số nhiều. Trong câu “sequences induce graphs”, người đọc sẽ không thấy rõ ràng liệu hai tập hợp có quan hệ tương ứng 1-1, hay tập hợp các chuỗi cùng với nhau sinh ra một tập các đồ thị; sử dụng câu “each sequence induces a graph” tránh được sự rối rắm đó. Giống như thế, trong câu: “graphs might contain paths”, không rõ ràng liệu một đồ thị cho trước có thể chứa nhiều đường đi, hay có thể có nhiều nhất 1 đường đi.

Khi mô tả một thí nghiệm hay một hành động khác đã xảy ra trong quá khứ, sử dụng thời quá khứ đơn (past tense). Ví dụ, tiết đoạn về phương pháp không nên viết là “We run the program” mà nên viết  “We ran the program”. Tuy nhiên, bạn sẽ không sai khi viết  “Our methodology was to run the program”, vì trong đó bạn dùng dạng nguyên thể (infinitive) “to run”. Khi diễn tả những gì thuộc về chính bài báo, hãy dùng thể hiện tại đơn (present tense). Ví dụ, “This paper shows that …”.  Lý do là độc giả đang đọc bài báo trong thời gian thực; và bài báo giống như một cuộc  đàm luận giữa tác giả và người đọc.

Tránh sử dụng một cách vu vơ thời tương lai “will…”, ví dụ như, “switching the red and green wires will cause the bomb to explode”. Thay vào đó, hãy sử dụng cách diễn đạt ngắn gọn và trực tiếp hơn “switching the red and green wires causes the bomb to explode”.

Trong một danh sách có ít nhất 3 phần tử, để rõ ý, tốt hơn là bạn hãy đặt một dãy các dấu phẩy giữa các phần tử (bao gồm cả dấu phẩy giữa hai phần tử cuối). Ví dụ đơn giản sau giải thích lý do vì sao. Cho một danh sách có 3 mặt hàng tạp hoá được viết mà không có dấu phẩy cuối cùng: “milk, macaroni and cheese and crackers”. Cách viết đó không tường minh liệu nó mang nghĩa { milk, macaroni and cheese, crackers } hay { milk, macaroni, cheese and crackers }. Một ví dụ khác là câu “I would like to thank my parents, Rene Descartes and Ayn Rand,”. Nó có thể gợi ra cách hiểu:  Rene Descartes và Ayn Rand là bố mẹ tôi trong khi cách viết “I would like to thank my parents, Rene Descartes, and Ayn Rand,” là để cảm ơn 4 người. Tôi đã thấy các ví dụ thực tế thậm chí còn rối rắm hơn các ví dụ này.

Trong tiếng Anh, các tính từ ghép có dấu nối giữa trong khi danh từ ghép thì không. Hãy xem cách viết “the semantics provide name protection” so với “the name-protection semantics”.

Một vài lời khuyên trong bài viết này nói về cách viết tốt, nhưng dường như điều đó (được coi) là thứ cấp trong hoạt động nghiên cứu. Nhưng viết lách rõ ràng là giúp bạn suy nghĩ mạch lạc hơn và thường bộc lộ những sai lầm (và cả ý tưởng nữa!) – mà trước đó có thể bạn không nhìn ra được. Hơn nữa, nếu bạn viết không tốt thì người đọc hoặc là không thể hiểu các ý tưởng hay ho của bạn, hoặc độc giả (có quyền) nghi ngờ về công trình của bạn. Nếu bạn không (hoặc không thể) viết tốt, tại sao độc giả nên tin rằng bạn đã cẩn thận hơn thế trong công việc nghiên cứu? Viết lách phản chiếu con người bạn, vì vậy hãy làm sao để nó phản chiếu thật là tốt.

Bảng biểu, hình vẽ

Hãy dùng bảng biểu, hình vẽ! Những người khác nhau học theo cách khác nhau, vì thế bạn nên bổ sung bảng biểu, hình vẽ vào các trình bày dạng chữ và công thức toán. Thậm chí với những người – mà lối học của họ là dựa trên văn tự, một cách trình bày khác (ở đây là bảng biểu, hình vẽ — lời người dịch) có thể lấp đầy khoảng trống (trong việc hiểu — lời người dịch), hoặc cho phép độc giả kiểm tra lại cách hiểu của anh/cô ta. Bảng biểu, hình vẽ cũng có thể giúp minh hoạ khái niệm, lôi kéo những người đọc chỉ có ý định đọc lướt qua vào bài báo (hoặc ít nhất truyền đạt ý tưởng then chốt cho độc giả đó), và làm cho bài báo của bạn trông hấp dẫn hơn về mặt thị giác.

Việc đưa ra một ví dụ cực kỳ hữu ích để làm rõ các ý tưởng của ban: nó có thể làm cụ thể hoá (trong đầu người đọc) về những gì các phương pháp của bạn thực hiện (và tại sao nó phức tạp hay đáng quan tâm). Một ví dụ được sử dụng xuyên suốt bài báo cũng hữu ích khi minh hoạ cách những thuật toán của bạn hoạt động, và một ví dụ đơn lẻ cho phép bạn giảm bớt thời gian và không gian được dùng (trong bài báo) để giải thích ví dụ (và thời gian của độc giả để hiểu về giá trị của nó). Việc tìm một ví dụ hoặc tạo ra ví dụ mà bạn có thể sử dụng lại xuyên suốt bài báo khó khăn hơn nhiều, nhưng rất đáng làm.

Một bảng biểu, hình vẽ nên đứng độc lập, bao gồm tất cả các thông tin cần thiết để hiểu nó. Các lời chú thích tốt bao gồm nhiều câu; lời chú thích cung cấp ngữ cảnh (của bảng biểu, hình vẽ) và các lý giải. Hãy xem các tạp chí như Scientific American và American Scientist để biết thêm các ví dụ tốt. Không bao giờ được viết một lời chú giải như “The Foobar technique”; lời chú giải nên nói về “Foobar technique” là gì, nó tốt cho điều gì, hoặc nó hoạt động như thế nào. Lời chú giải có thể cũng cần giải thích ý nghĩa của các cột trong một bảng biểu hoặc của các ký hiệu trong một hình vẽ. Tuy nhiên, một cách thậm chí còn tốt hơn là đưa các thông tin vào trong hình vẽ một cách hợp lý; ví dụ sử dụng các nhãn và lời ghi chú (legend). Khi phần thân bài của bài báo của bạn có chứa các thông tin trong lời chú giải, có thể có một vài tác động tiêu cực. Người đọc buộc phải tìm kiếm trong toàn bài báo để hiểu một hình vẽ/bảng biểu. Mạch viết của bạn bị ngắt quãng với những chi tiết mà chỉ thích đáng (để đọc) khi một người nhìn vào hình vẽ/bảng biểu. Khi đó, các hình vẽ/bảng biểu trở nên kém hiệu quả trong việc lôi cuốn một độc giả có ý định chỉ lướt qua bài báo của bạn — trong khi đây là một đối tượng độc giả mà bạn nên quan tâm!

Giống như trong việc đặt tên, bạn hãy sử dụng các yếu tố minh hoạ bằng hình ảnh một cách thống nhất. Chỉ nên sử dụng hai loại mũi tên (hoặc hai loại hình hộp, đánh bóng, etc) khác nhau khi bạn biểu diễn các khái niệm riêng biệt; đừng đưa vào sự không thống nhất chỉ bởi vì nó làm hài lòng cảm nhận thẩm mỹ của bạn. Hầu như  bất kỳ biểu đồ nào với nhiều loại phần tử yêu cầu sử dụng lời chú giải (legend) (hoặc tường minh trong biểu đồ hoặc ở trong phần giải thích — caption) để giải thích về ý nghĩa của mỗi phần tử; các biểu đồ với một loại phần tử cũng như vậy.

Tôi không mê mẩn việc có quá nhiều các loại hình vẽ/bảng biểu khác nhau trong một bài báo khoa học — như một vài minh hoạ được gọi là “figure”, một số khác được gọi là “table” hay “graph” hay “picture”. Độc giả rất khó tìm “table 3”, xuất hiện sau “figure 7” và trước “bản vẽ 1” (freehand drawing 1). Tốt nhất là gọi chúng một cách đơn giản là “figure” và đánh số tuần tự; phần thân của mỗi bảng biểu/hình vẽ có thể là một bảng, một đồ thị, một bản vẽ, hoặc bất kỳ loại minh hoạ gì.

Mã nguồn chương trình

Ví dụ về mã nguồn của bạn có thể là mã chương trình thực tế, hoặc có thể gần với mã thực tế. Đừng bao giờ dùng các ví dụ giả tạo như các thủ tục hoặc biến được đặt tên là foo hay bar. Các ví dụ giả tạo gây khó khăn hơn nhiều (so với các ví dụ thật — lời người dịch) cho độc giả để hiểu và hiểu một cách trực quan. Thêm nữa, chúng sẽ đem đến cho người độc ấn tượng rằng kỹ thuật của bạn không áp dụng được trong thực tế. Họ có thể cho rằng bạn không thể tìm được ví dụ nào thực tế để minh hoạ nó nên bạn phải tạo ra một ví dụ không có thật.

Phông chữ đậm hay bất kỳ cách định dạng để nhấn mạnh nào nên dùng để biểu thị những phần quan trọng nhất trong văn bản. Trong các đoạn code, không bao giờ nên dùng nó để tạo sự chú ý với các thành phần cú pháp như “public” hay “int”, vì nó không phải là phần mà bạn muốn thu hút độc giả vào. (Thậm chí nếu IDE của bạn có làm như vậy, nó cũng không thích hợp cho một bài báo khoa học). Ví dụ, có thể chấp nhận được khi dùng phông chứ in đậm để biểu thị tên của các thủ tục (giúp cho độc giả tìm ra chúng), nhưng không phải để biểu thị kiểu giá trị trả về của các thủ tục đó.

Đặt tên

Hãy đặt tên mỗi khái niệm trong bài báo bằng một cái tên diễn tả ý nghĩa của khái niệm và dễ nhớ đối với độc giả. Đừng bao giờ sử dụng những thuật ngữ như “approach 1”, “approach 2”, hoặc “our approach”, và tránh những từ viết tắt nếu có thể. Nếu bạn không thể nghĩ ra một tên gọi tốt (cho khái niệm) thì có thể bạn không thật sự hiểu khái niệm đó. Nghĩ nhiều hơn về khái niệm để xác định những đặc trưng quan trọng hay mấu chốt nhất.

Đặt tên cho một kỹ thuật (hoặc một tiết đoạn của bài báo) dựa trên nội dung nó thực hiện (what) tốt hơn là đặt tên dựa trên cách nó thực hiện (how).

Sử dụng các thuật ngữ một cách nhất quán và chính xác. Tránh những dùng từ ngữ kiểu cách (elegant variation) — tức là dùng các thuật ngữ khác nhau cho cùng một khái niệm với mục đích để một bộ phận độc giả không thấy nhàm chán hoặc để nhấn mạnh những khía cạnh khác nhau của khái niệm. Trong khi cách dùng từ ngữ kiểu cách có thể thích hợp trong thơ ca, tiểu thuyết, và một số bài luận, điều đó là không thể chấp nhận trong viết lách khoa học, kỹ thuật, trong đó bạn nên định nghĩa rõ các thuật ngữ khi chúng lần đầu được giới thiệu, và sử dụng chúng một cách nhất quán. Nếu bạn thay đổi cách dùng từ một cách vô cớ, bạn sẽ làm độc giả rối trí và làm rối tung luận điểm của bạn; độc giả của một bài báo khoa học cho rằng việc dùng các thuật ngữ khác nhau đưa ra dấu hiệu về một ý nghĩa khác, và sẽ băn khoăn rằng đâu là sự khác biệt tinh tế mà bạn đang cố nhấn mạnh. Vì thế, đừng làm rối trí độc giả bằng cách thay đổi các từ “program”, “library”, “component”, “system”, và “artifact”, hoặc kết hợp “technique”, “idea”, “method”, “approach”, hay thay đổi giữa “program”, “code”, và “source”. Chọn từ tốt nhất cho khái niệm và dùng nó xuyên suốt.

Đừng sử dụng một thuật ngữ đơn lẻ cho nhiều khái niệm. Nếu bạn dùng thuật ngữ “technique” cho tất cả các ý tưởng bạn giới thiệu trong bài báo thì độc giả sẽ trở nên rối trí. Đây là một nơi mà việc sử dụng các từ đồng nghĩa để phân biệt các khái niệm không liên quan (không liên quan theo quan điểm của bài báo của bạn) được chấp nhận. Ví dụ, bạn có có thể luôn dùng từ “phase” khi mô tả một thuật toán, nhưng dùng từ “step” khi mô tả cách một người dùng sử dụng một công cụ.

Khi bạn trình bày một danh sách, hãy nhất quán trong cách giới thiệu các thành phần, và sử dụng các định dạng đặc biệt để phân biệt chúng hoặc phát biểu rõ số phần tử của danh sách. Đừng dùng “There are several reasons I am smart. I am intelligent. Second, I am bright. Also, I am clever. Finally, I am brilliant.” Thay vào đó, dùng “There are four reasons I am smart. First, I am intelligent. Second, I am bright. Third, I am clever. Fourth, I am brilliant.” Đặc biệt, khi các luận điểm dài hơn, cách viết đó sẽ giúp độc giả dễ theo dõi hơn. Một số người lo lắng rằng sự kiên định và lặp lại như vậy là quá mô phạm và an toàn, hoặc làm cho lối viết khó theo dõi. Bạn không cần phải lo lắng đến vậy: chẳng có điều gì trong các lo lắng này là đúng cả. Điều quan trọng là làm sao cho luận điểm của bạn rõ ràng chứ không phải là cố gắng diễn đạt kiểu cách trong khi làm mất đi tính trong sáng, rõ ràng.

Hãy chọn các tên gọi tốt không chỉ cho các khái niệm mà bạn trình bày trong bài báo, mà trong cả file mã nguồn của tài liệu. Đừng đặt tên file theo sau tên của hội nghị bạn gửi bài (bài báo có thể bị từ chối) hoặc đằng sau số năm. Thậm chí nếu bài báo được chấp nhận đăng, tên đó sẽ không cho bạn biết bài báo nói về cái gì khi bạn lục lại những file nguồn nhiều năm về sau. Thay vào đó, đặt tên cho bài báo hay thư mục chứa nó một cái tên phản ánh nội dung của nó.

Sau đây là một lời khuyên chuyên cho ngành tính toán: đừng sử dụng thuật ngữ mơ hồ, phi kỹ thuật “bug”. Thay vào đó, sử dụng các thuật ngữ chuẩn: “fault”, “error”, hay “failure”. Từ “fault” chỉ một sai sót bên dưới của hệ thống, do con người gây ra. Từ “failure” để chỉ biểu hiện người dùng có thể nhìn thấy của các từ “fault” hay “defect”. Trong các tình huống khác, từ “bug report” có thể thích hợp hơn từ “bug”.

Số và đo lường

Hãy sử dụng số lượng chữ số thể hiện độ chính xác một cách nhất quán. Ví dụ, nếu dữ liệu đo đạc là 1.23, 45.67 và 891.23, bạn có thể báo cáo chúng là 1.23, 45.7, 891 hoặc 1.2, 46, 890 hoặc 1, 50, 900. Sử dụng số lượng chữ số thể hiện độ chính xác phản ánh quá trình đo đạc. Chữ số thứ 3 và 4 của độ chính xác hiếm khi chính xác và tổng quát; nếu bạn không tự tin về điều đó, hãy loại bỏ nó. Hãy luôn ghi nhớ thông điệp bạn muốn chuyển tải đến độc giả . Quá nhiều chữ số thể hiện độ chính xác, hoặc các chi tiết không thích đáng khác có thể làm độc giả sao lãng khỏi hướng rộng hơn và bức tranh lớn của vấn đề. Việc sử dụng số lượng chữ số thể hiện độ chính xác một cách không hợp lý có thể làm lợn cợn sự nghi ngờ về tất cả những kết quả của bạn, đưa đến cho độc giả ấn tượng rằng bạn khá ngờ nghệch về thống kê. Nếu bạn thực hiện bất kỳ tính toán nào ví dụ như các tỉ lệ, bên trọng bạn nên sử dụng độ chính xác đầy đủ của các số liệu đo lường thực tế, nhưng bài báo của bạn sẽ báo cáo chỉ với số lượng giới hạn các chữ số thể hiện độ chính xác. Nếu các đo lường là chính xác, ví dụ như số lượng các phần tử thì việc sử dụng toàn bộ các chữ số có thể chấp nhận được cho dù nó có nhiều chữ số; ngược lại, thời gian và các đo lường không xấp xỉ khác nên luôn được báo cáo với số lượng giới hạn các chữ số thể hiện độ chính xác.

Đừng làm rối tung giữa các độ đo tương đối và tuyệt đối. Ví dụ, giả sử thuốc của bạn chữa khỏi khoảng 30% số bệnh nhận, và giả dược chữa khỏi 25% số bệnh nhận. Bạn có thể báo cáo rằng tỉ lệ được chữa khỏi của phương pháp của bạn là 0.3, và tỉ lệ chữa khỏi của giả dược là 0.25, và tỉ lệ được chữa khỏi của phương pháp của bạn lớn hơn 0.05 hoặc 20% (so với tỉ lệ của giả dược) (một cách chính xác nhưng không hay bằng để diễn đạt cùng ý đó là nó chữa khỏi nhiều hơn 20%, bằng 120%, hoặc 1.2 lần số bệnh nhân so với giả dược). Sẽ là không chính xác khi nói rằng thuốc của bạn chữa khỏi nhiều hơn 5% số bệnh nhân hoặc thuốc của bạn chữa khỏi nhiều hơn 120% số bệnh nhận. Bạn chỉ cần viết một cách chính xác “120% more” (cách viết sai là “120% as many”), bạn cần viết đúng “3 times faster than” (cách viết sai là “3 times as fast as”). Một sự lẫn lộn có liên quan và cũng phổ biến là giữa cách diễn đạt “3 times faster than” và “3 times as fast as”. Và cách viết “2 times fewer” chẳng có nghĩa gì cả. Tôi sẽ hoàn toàn tránh dùng những thuật ngữ này. Cách viết “Half as many” sẽ là một sự thay thế tốt hơn nhiều cho “2 times fewer”.

Vốn đã biết trước rằng ý nghĩa của phần trăm hoặc mẫu số trong phần trăm rất dễ hiểu nhầm, tôi cố tránh dùng phần trăm và sử dụng phân số bất kỳ khi nào có thể, đặc biệt là với các đo lường cơ bản. Phần trăm có thể chấp nhận được cho mục đích so sánh giữa các kỹ thuật. Tránh trình bày hai độ đo lường khác nhau, trong đó cả hai đều ở dạng phần trăm nhưng có các mẫu số khác nhau.

Xử lý dữ liệu

Bài báo của bạn có thể bao gồm bảng biểu, phần tài liệu tham khảo, hoặc những nội dung được sinh ta từ dữ liệu bên ngoài. Bài báo của bạn cũng có thể được viết bằng các ngôn ngữ định dạng văn bản như LaTeX. Trong mỗi trường hợp này, bạn cần thực thi một số lệnh bên ngoài để tạo ra một số nội dung hoặc để tạo ra bản PDF cuối cùng.

Tất cả những bước tạo ra bài báo của bạn nên được viết tài liệu rõ ràng – tức là, ghi lại trong những chú thích hoặc trong những file ghi chú mà bạn lưu giữ cùng với bài báo — và tốt hơn, các bước đó nên được làm tự động sao cho bạn chỉ cần phải chạy một lệnh duy nhất để thu thập toàn bộ dữ liệu, tạo ra các bảng biểu và sinh ra bản PDF cuối cùng.

Nếu bạn viết tài liệu và tự động hoá những bước này thì bạn có thể dễ dàng tạo lại bài báo của bạn khi cần thiết. Điều này hữu ích nếu bạn chạy lại các thực nghiệm và phân tích, hoặc nếu bạn cần bảo vệ kết quả của bạn trước các phê bình của các nhà nghiên cứu khác. Nếu bạn để cho một vài bước làm bằng tay, các đồng nghiệp của bạn rất có khả năng sẽ mắc lỗi (dẫn tới sai lầm về khoa học) hoặc không thể thực hiện lại được kết quả của bạn về sau.

Một phương pháp tốt để tự động hoá những tác vụ này là sinh ra một chương trình hoặc tạo ra một script cho các hệ thống tạo kết quả tự động (build system) như Make hay Ant.

Các nghiên cứu liên quan (Related Work)

Phần các nghiên cứu liên quan (related work) không nên chỉ giải thích các nghiên cứu nào người khác đã làm mà trong mỗi trường hợp nên so sánh và đối chiếu nó với nghiên cứu của bạn và cả với các nghiên cứu liên quan khác nữa. Sau khi đọc phần nghiên cứu liên quan, độc giả nên hiểu rõ về ý tưởng chính và đóng góp của mỗi mảnh ghép quan trọng của các nghiên cứu liên quan, cách chúng kết hợp với nhau (đâu là những chủ đề hay cách tiếp cận phổ biến trong cộng đồng nghiên cứu?), và nghiên cứu của bạn khác các nghiên cứu liên quan như thế nào. Đừng viết phần related work giống như một danh sách các bài báo khác, với mỗi câu nói về một bài được lấy từ phần tóm tắt (abstract), và chẳng có bất kỳ phân tích hay so sánh sâu sắc nào với các nghiên cứu khác.

Trừ khi cách tiếp cận của bạn là một biến đổi nhỏ dựa trên một kỹ thuật khác, cách tốt nhất là để phần related work xuống cuối cùng của bài báo. Khi đặt nó ở đầu, nó đưa đến cho độc giả ấn tượng rằng công trình của bạn mang tính phái sinh (từ một nghiên cứu khác). (Nếu đúng là như vậy, bạn có trách nhiệm truyền đạt điều đó thật rõ ràng; nếu không phải như vậy, làm như vậy nó sẽ gây hiểu nhầm.) Bạn cần chắc chắn rằng các độc giả hiểu phương pháp của bạn trong bức tranh toàn cảnh của nó, và hiểu mối quan hệ của nó với các nghiên cứu khác; các thứ tự (đặt phần related work) khác nhau có thể hiệu quả trong các trạng huống khác nhau.

Bởi vì thông thường, bạn nên giải thích phương pháp của bạn trước tiên, và sau đó chỉ ra mối liên quan với các nghiên cứu khác, nên cách hiệu quả hơn là đặt các thảo luận chi tiết về những hạn chế của phương pháp của bạn trong những section sau (thay vì đưa phần mô tả chính về phương pháp ra sau). Tất nhiên, bạn nên thật sự thẳng thắn và trung thực về những hạn chế của bài báo (sớm đề cập tới nó mặc dù bạn không mô tả chi tiết), nhưng đừng phá hỏng sự liền mạch của câu chuyện  hoặc phá hỏng sự quan tâm của độc giả tới phương pháp của bạn.

Phản hồi (Feedback)

Hãy nhận phản hồi! Hoàn thành bài báo của bạn sớm (trước hạn cuối) sao cho bạn có đủ thời gian để có thể cải thiện nó. Thậm chí việc đọc lại bài viết của chính mình sau một thời gian không đọc có thể  lộ ra cho bạn những gì mà bạn đã không chú ý. Một độc giả bên ngoài có thể cho bạn biết nhiều hơn thế.

Khi độc giả hiểu sai bài báo của bạn, nó có nghĩa là luôn có ít nhất một phần lỗi của tác giả. Thậm chí nếu bạn nghĩ rằng độc giả không nắm được luận điểm, bạn sẽ học được rằng nghiên cứu của mình có thể bị hiểu sai như thế nào, và loại bỏ những nhập nhằng sẽ cải thiện chất lượng bài báo.

Đừng gây phiền hà cho những người góp ý – những người đang bỏ thời gian ra giúp bạn. Đây là một số cách để làm điều đó.

Tương tự như việc gửi bài tới các hội nghị, đừng làm mất thời gian của bất kỳ ai nếu có những lỗi lớn (trong bài báo). Chỉ nhờ ai đó đọc (một phần) bài báo của bạn khi bạn nghĩ rằng bạn sẽ học được điều gì đó mới mẻ do bạn không nhận thấy được những vấn đề nghiêm trọng. Nếu chỉ một số phần sẵn sàng, tốt nhất là bạn cho người đọc biết điều này trong chính bài báo (ví dụ, một chú giải dạng TODO mà độc giả sẽ đọc hoặc một chú thích viết tay trên bản cứng) hơn là nói bằng lời hoặc trong thư điện tử vì độc giả có thể quên hoặc bản chú thích có thể không sẵn có cùng với bài báo.

Cách hiệu quả nhất là nhận góp ý theo kiểu tuần tự hơn là song song. Thay vì nhờ 3 người đọc cùng một phiên bản của bài báo, hãy nhờ một người đọc bài báo, sau đó chỉnh sửa trước khi nhờ người tiếp theo đọc, và tiếp tục như vậy. Cách này tránh cho bạn nhận những nhận xét giống nhau nhiều lần — những độc giả tiếp theo có thể đưa cho bạn những góp ý mới hơn là lặp lại những gì bạn đã biết, và bạn sẽ nhận góp ý về một vài thứ gần với phiên bản cuối cùng (của bài báo) hơn. Nếu bạn nhờ nhiều độc giả một lần, bạn đang đánh giá thấp thời gian họ bỏ ra  — bạn đang cho thấy bạn không quan tâm đến việc họ tốn thời gian để nói những điều bạn đã biết. Bạn có thể hỏi nhiều người góp ý nếu bạn không tự tin về ý kiến của họ hoặc bạn tự tin rằng bài báo đã khá tốt, trong trường hợp đó chắc rằng sẽ không vấn đề lớn nào (trong bài báo) mà mọi người góp ý đều cho qua (vì nếu có vấn đề lớn nào thì sẽ có ít nhất một người sẽ góp ý — lời người dịch).

Tốt nhất là bạn không gửi email bài báo mà cung cấp nơi mà những người góp ý có thể lấy bản mới nhất của bài báo, ví dụ như kho quản lý phiên bản (version control repository) hoặc đường dẫn tới bản cập nhật. Với cách đó, bạn sẽ không làm lộn xộn hộp thư với quá nhiều bản sửa chữa và độc giả luôn nhận được bản copy gần đây nhất.

Hãy hào phóng với việc dùng thời gian của mình khi đồng nghiệp cần góp ý cho các bài báo của họ: bạn sẽ giúp đỡ họ, bạn sẽ học được những điều cần noi gương và những điều cần tránh; và họ cũng sẽ sẵn lòng hơn để đọc và góp ý cho các bài viết của bạn.

Một số phản hồi tốt nhất sẽ đến từ chính bạn, đặc biệt vì bạn suy nghĩ chín chắn và tĩnh tâm hơn về bài báo của bạn. Để tận dụng điều này, hãy bắt đầu viết sớm. Một cách hay để thực hiện điều này là viết các báo cáo tiến độ định kỳ trong đó mô tả những thành công và thất bại của bạn. Báo cáo tiến độ sẽ đem lại cho bạn bài luyện tập viết lách về nghiên cứu của bạn, và thường cả bài luyện tập về thử nghiệm những những cách giải thích khác nhau.

Một mặt bạn nên bắt đầu viết sớm nhất có thể, bạn không cần phải viết theo dạng một bài báo khoa học ngay lập tức. Trong thực tế, cách tốt nhất thường là phác thảo bài báo khoa học, nhận phản hồi cho bản phác thảo đó, trước khi bắt đầu đưa nội dung vào các tiết đoạn (sections) (bạn có thể cho rằng bạn có thể chép những đoạn văn bản bạn đã có vào bài báo, nhưng cách tốt hơn là viết các nội dung lại một lần nữa (theo cách mới–). Với kiến thức của bạn về cấu trúc về tổng quan (của bài báo), mục tiêu, và độc giả, bạn sẽ có thể làm tốt hơn nhiều.) Khi phác thảo, tôi thích bắt đầu với một câu về bài báo; sau đó viết một câu cho mỗi đoạn con (subsection); và viết một câu cho mỗi đoạn văn (hãy nghĩ về câu chủ đề của đoạn); và tại thời điểm đó, công việc của bạn rất dễ dàng khi chỉ “đắp thêm thịt” cho các đoạn văn.

Trả lời ý kiến bình duyệt của hội nghị

(Phần này thích hợp với các ngành như khoa học máy tính trong đó các hội nghị là những nơi tốt hơn để xuất bản các nghiên cứu. Trả lời cho các ý kiến bình duyệt của tạp chí (journal) sẽ khác.)

Rất nhiều hội nghị đặt ra thời gian dành cho phản hồi của tác giả: tác giả được cho xem các bình duyệt (về bài báo) và sẽ phản hồi những bình duyệt trong phạm vi giới hạn được quy định trước (chẳng hạn 500 từ), cho những mục đích như làm rõ những hiểu lầm hay trả lời các câu hỏi. Phản hồi của tác giả thỉnh thoảng được gọi là “sự bác bỏ” (rebuttal), nhưng tôi không thích thuật ngữ đó vì nó mang giọng điệu quảng cáo.

Bài báo của bạn sẽ chỉ được nhận đăng nếu có “một chiến sĩ bảo vệ” cho bài báo: một ai đó thấy phấn khích về bài báo và sẽ cố thuyết phục những người còn lại trong hội đồng chấp nhận bài báo. Phản hồi của bạn cần đưa ra lý lẽ cho người chiến sỹ đó nhằm vượt qua sự phản đối. Nếu chẳng có chiến sĩ nào thì mục tiêu chính của phản hồi của bạn là tạo ra chiến sĩ đó. (tác giả diễn đạt một cách hình tượng — lời người dịch).

Đọc lời bình duyệt và quyết định xem những luận điểm nào bạn sẽ phản hồi. Bạn cần tập trung vào những điểm quan trọng, trọng yếu.

Trong những phản hồi, hãy thẳng thắn thừa nhận những lỗi của mình. Đừng phớt lờ hay bỏ qua những vấn đề chính, đặc biệt là những vấn đề mà nhiều người bình duyệt đưa ra.

Phản hồi cho mỗi điểm sẽ là một đoạn văn. Bắt đầu đoạn văn với một đề mục hay tiêu đề ngắn gọn về điểm đó. Đừng giả sử rằng những người bình duyệt ghi nhớ tất cả mọi thứ được mỗi người bình duyệt viết ra, cũng như đừng giả sử họ sẽ đọc lại tất cả những bình duyệt trước khi đọc phản hồi của bạn. Việc đưa vào một ngữ cảnh sẽ giúp họ xác định bạn đang nói về cái gì và giúp cho bình duyệt đó có thể đứng độc lập. Cũng nên cho phép bạn trình bày vấn đề bằng từ ngữ của chính bạn. Làm thế có thể rõ ràng hơn và tập trung vào những điểm thích đáng hơn so với bản bình duyệt.

Sắp xếp các phản hồi theo chủ đề. Nhóm các đoạn văn thành tiết đoạn (section), và có một đề mục/tiêu đề cho mỗi tiết đoạn. Nếu một tiết đoạn chỉ gồm một đoạn văn, bạn có thể sử dụng đề mục của đoạn văn đó làm đề mục của tiết đoạn. Sắp xếp các tiết đoạn theo thứ tự từ quan trọng nhất tới ít quan trọng nhất.

Cách tốt hơn là sắp xếp phản hồi của bạn theo người bình duyệt, đầu tiên trả lời các góp ý của người bình duyệt thứ nhất, sau đó người bình duyệt thứ hai, vv. Khuyết điểm của cách tổ chức theo người bình duyệt bao gồm:

  • Nó có thể thúc đẩy bạn không đưa ra các ngữ cảnh đầy đủ.
  • Nó không khuyến khích bạn nhóm các thông tin liên quan với nhau hay đặt các thông tin quan trọng lên đầu.
  • Bạn sẽ khiến cho tất cả người bình duyệt đọc toàn bộ phản hồi thay vì chỉ đọc một phần (của họ).
  • Khi nhiều người bình duyệt đưa ra cùng một vấn đề thì không cần biết bạn để nó ở đâu, có khả năng người bình duyệt đó không nhận thấy nó và nghĩ rằng bạn không đưa ra trả lời cho vấn đề đó.
  • Bạn không muốn làm cho những vấn đề trong một nhận xét mà bạn phải phớt lờ (vì lý do về giới hạn không gian hay vì các lý do khác) hiện lên rành rành.
  • Bạn không muốn hiện lên rành rành rằng bạn đã sử dụng quá nhiều thời gian cũng như độ dài của phản hổi cho một người bình duyệt hơn là người khác.

Thông thường, cách tốt nhất là không đề cập tên/số của người bình duyệt trong phản hồi của bạn. Viết các phản hồi về khoa học chứ không phải về cá nhân.

Cuối cùng, hãy lịch sự và tỏ ra biết ơn những người bình duyệt. Họ đã bỏ ra thời gian và năng lượng đáng kể để đưa ra những nhận xét cho bạn (thậm chí ngay cả khi bạn không thấy họ làm như vậy!), và đổi lại, bạn nên biết ơn và nhã nhặn.

Bị từ chối (Rejection)

Nếu bạn gửi đi các bài báo khoa học, bạn sẽ có trải nghiệm về việc bị từ chối. Trong một số trường hợp, bị từ chối tức là bạn nên từ bỏ mà bắt đầu một đường lối mới trong nghiên cứu. Trong hầu hết các trường hợp, các bình duyệt sẽ cho bạn cơ hội để nâng cao chất lượng nghiên cứu, và bạn nên cảm ơn lời từ chối! Sẽ là tốt hơn cho sự nghiệp của bạn nếu một bài báo chất lượng tốt của bạn xuất hiện trong thời gian sau hơn là một bài báo chất lượng tồi được xuất bản sớm hơn hoặc việc có một chuỗi những bài báo kém chất lượng.

Ngược lại, thậm chí các sai sót nhỏ về lôgic hoặc các thiếu sót nhỏ trong một bài báo tốt có thể dẫn đến việc bị từ chối. Điều này hay gặp ở những hội nghị hàng đầu với tỉ lệ nhận đăng rất thấp; đó là những nơi bạn nên hướng tới. Những người bình duyệt thường là những người có tâm và kiên định, nhưng người bình duyệt ở các hội nghị khác nhau có thể có những tiêu chuẩn khác nhau, vì thế sự may mắn khi được sắp xếp người bình duyệt là một yếu tố trong việc bài báo được chấp nhận.

Một bài học sai lầm khi bị từ chối là sự nản lòng và cảm giác thất bại. Rất nhiều bài báo — thậm chí cả những bài báo mà về sau được trao giải thưởng bị từ chối ít nhất một lần. Góp ý bạn nhận được, và cơ hội được quay trở lại công trình nghiên cứu sẽ luôn nâng cao chất lượng những kết quả nghiên cứu của bạn.

Đừng chán nản vì một giọng điệu tiêu cực trong các lời bình duyệt. Những người bình duyệt đang cố giúp bạn, và cách tốt nhất để làm điều đó là chỉ ra làm thế nào để nâng cao chất lượng nghiên cứu của bạn. Tôi thường viết một bản báo cáo bình duyệt dài hơn nhiều với nhiều những gợi ý để cải tiến cho những bài báo tôi thích; nếu một bài báo rất tệ, tôi có thể không thể đưa ra những gợi ý cụ thể, hoặc những bình luận mức khái quát có thể làm cho cho các bình luận chi tiết thành vấn đề để bàn luận.

Nếu một người bình duyệt không hiểu vấn đề nào đó, thì lỗi chính luôn nằm ở cách viết của bạn. Nếu bạn đổ lỗi cho một người bình duyệt lười biếng hay ngu ngốc, bạn đang tuột mất cơ hội để cải thiện (bài báo). Những người bình duyệt không hoàn hảo, nhưng họ làm việc chăm chỉ để đưa cho bạn những gợi ý hữu ích, vì thế bạn nên tin tưởng vào họ. Hãy ghi nhớ rằng việc truyền tải ý tưởng trong bài báo của bạn khó như thế nào (nếu bạn bị từ chối, đó là bằng chứng bạn đã không thành công!) thì việc truyền tải ý tưởng trong một báo cáo bình duyệt cũng khó như vậy, và bình duyệt đó được viết trong vòng vài tiếng đồng hồ trong khi bạn bỏ ra nhiều tuần cho bài báo (chưa nhắc đến hàng tháng hay hàng năm để hiểu các khái niệm). Bạn nên chú tâm đến các bình luận tường minh và cả những vấn đề bên dưới dẫn đến những bình luận đó  —  không phải lúc nào cũng nào cũng dễ dàng nắm bắt tất cả những bình luận theo một cách mạch lạc. Hãy nghĩ về cách để nâng cao chất lượng nghiên cứu và cách viết của bạn, thậm chí nghĩ vượt qua khỏi những góp ý tường minh trong các bình duyệt — trách nhiệm lớn nhất đối với công việc nghiên cứu và viết lách luôn là của bạn.

Bạn có nên gửi một bài báo chưa hoàn hảo? Về phía quan điểm ủng hộ, nhận phản hồi về bài báo của bạn sẽ giúp bạn nâng cao chất lượng của nó. Mặt khác, bạn không muốn tốn thời gian của người bình duyệt hay bị mất uy tín vì gửi một bài báo chưa viết đến nơi đến chốn. Nếu bạn nhận thức được những lỗi về lôgic mà sẽ khiến cho người bình duyệt từ chối bài báo của bạn, hoặc những phê bình hợp lý mà họ sẽ đưa ra, đừng gửi bài báo đi. Chỉ gửi nếu bạn không thấy còn trở ngại nào và bạn không thấy xấu hổ với cộng đồng nghiên cứu khi dính tên của bạn với công trình nghiên cứu đó, ở dạng hiện tại của nó (in its current form).

Lời khuyên của Norman Ramsey

Bài viết tuyệt vời của Norman Ramsey có tên Teach Technical Writing in Two Hours per Week theo một thuyết tương tự với cách tiếp cận của tôi: qua việc tập trung nâng cao tính rõ ràng của bài viết, bạn  sẽ chắc chắn sẽ đạt được sự mạch lạc trong suy nghĩ của mình.

Đừng thấy áp lực về việc phải đọc cả hai bản cho sinh viên và người hướng dẫn. Bản cho sinh viên là tập con của bản dành cho người hướng dẫn. Bạn có thể thu được rất nhiều lợi ích khi chỉ đọc 1 phần dưới đây, những lời khuyên xuất sắc của ông có tên “nguyên lý và thực hành của một người viết lách thành công”:

Nguyên lý

  1. Tính chính xác (correctness). Viết tiếng Anh đúng, nhưng bạn hãy hiểu rằng bạn có nhiều đất để tự do hơn kiến thức tiếng Anh phổ thông các giáo viên đã dạy bạn.
  2. Đặt tên nhất quán (consistent names). Nhắc đến “những nhân vật chính” trong bài báo (thuật toán, khái niệm, ngôn ngữ) bằng những từ ngữ giống nhau ở mọi nơi (trong bài báo). Đặt tên cho những “nhân vật chính” với các tên gọi hợp lý.
  3. Số ít (singular). Để phân biệt các mối quan hệ 1-1 với các mối quan hệ n-m, hãy nhắc đến mỗi phần tử ở dạng số ít, chứ không phải số nhiều.
  4. Chủ ngữ và động từ (subjects and verbs). Để các thành tố quan trọng làm chủ ngữ, và nối mỗi chủ ngữ với một động từ để diễn đạt một hành động có ý nghĩa.
  5. Luồng thông tin (information flow). Trong mỗi câu, dẫn dắt độc giả từ những thông tin quen thuộc đến những thông tin mới mẻ.
  6. Nhấn mạnh (emphasis). Đối với các dữ liệu bạn nhấn mạnh hay muốn ghi nhớ, hãy đặt ở cuối câu.
  7. Sự mạch lạc (coherence). Trong một đoạn văn có tính mạch lạc, chọn các chủ ngữ nói đến những khái niệm liên quan đến nhau.
  8. Cấu trúc song song (parallel structure). Sắp xếp ý sao cho độc giả của bạn sẽ thấy các khái niệm liên quan khác và giống nhau như thế nào.
  9. Bản tóm tắt (Abstract). Trong một bản tóm tắt, đừng liệt kê một danh sách các chủ đề được đề cập; thay vào đó, truyền tải những thông tin cốt yếu trong bài báo của bạn.

Thực hành

  1. Viết lách hàng ngày trong những khoảng thời gian ngắn. Phớt lờ câu chuyện hoang đường rằng để viết lách thành công, bạn cần những khoảng thời gian dài, không bị ngắt quãng — thay vào đó, thực hành việc viết lạch trong những khoảng thời gian ngắn và hàng ngày.
  2. Tập trung vào tiến trình, chứ không phải sản phẩm (Focus on the process, not the product). Đừng nghĩ về độ lớn hay chất lượng của sản phẩm của bạn; thay vào đó, hãy tưởng thưởng cho bản thân bạn cho tính kiên định và đều đặn của công việc bạn làm.
  3. Prewrite. Đừng sợ suy nghĩ trước khi viết, đừng ngại (thậm chí) ghi chú, vẽ biểu đồ, vv.
  4. Sử dụng các tấm thẻ thông tin (index cards). Sử dụng chúng để lên một bản nháp hoặc tổ chức/tổ chức lại thành một đơn vị lớn như tiết đoạn hoặc chương.
  5. Viết một bản nháp đầu tiên xấu xí (Write a Shitty First Draft™). Định giá bản nháp đầu tiên không phải vì nó tuyệt vời mà vì bạn đã có nó. (ý tác giả là bạn nên hoàn thành xong bản nháp đầu tiên càng sớm càng tốt — lời người dịch).
  6. Đừng lo lắng về giới hạn số trang. Viết bài báo mà bạn muốn, sau đó giảm số trang sau.
  7. Cắt gọt. Dành thời gian cho công việc chỉnh sửa trong đó mục tiêu duy nhất của bạn là cắt gọt (những nội dung không cần thiết).

Tài nguyên khác

Advertisements

One Response

  1. […] sẽ theo một cách khác biệt hoặc kém rõ ràng hơn. (Điều này cũng đúng với việc viết lách: thậm chí nếu bạn biết bạn muốn nói cái gì, bạn cũng cần phải sửa lại […]

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: