Giải thích về trí tuệ nhân tạo và học máy cho học sinh trung học

Bài viết được dịch từ bài viết 人工知能と機械学習 (của khoa “khoa học máy tính” – đại học Tokyo) với mục đích phổ biến kiến thức cho những người “ngoại đạo”.

————————-

Robot có khả năng nói chuyện với con người, máy chơi cờ có trình độ tương đương với kỳ thủ chuyên nghiệp, máy tính chiến thắng con người trong gameshow trí tuệ (như máy tính IBM Waston chiến thắng con người trong gameshow Jeopardy!), các xe ô tô tự lái nhờ vào các máy tính lắp đặt bên trong,…- những máy tính ngày càng trở nên thông minh như vậy là nhờ sử dụng các kỹ thuật xử lý thông tin được gọi là “trí tuệ nhân tạo” và “học máy”.

Người ta cho rằng thuật ngữ “trí tuệ nhân tạo” bắt đầu được sử dụng vào những năm 1950. Trong thời gian đó, các nhà khoa học nghĩ rằng nếu có thể lập trình những mô thức suy nghĩ của con người, chúng ta có thể chế tạo ra những máy tính thông minh. Tuy nhiên, sau khi các nhà khoa học biết được rằng lượng mô thức suy nghĩ của con người là vô số, và không thể liệt kê hết những mô thức đó trong tất cả các tình huống khác nhau, cách tiếp cận đó đã rơi vào bế tắc trong một thời gian.

Sau đó, các nghiên cứu “học máy” đã quay trở lại. Thay vì lập trình tất các các mô thức suy nghĩ của con người, các các chương trình “học máy” học các mô thức từ các ví dụ, sau đó tự động suy luận các mô thức khác dựa trên sự tương tự. Nhờ có cách tiếp cận học máy đó, các máy tính có “trí tuệ nhân tạo” đã được hiện thực hoá ở một mức độ nhất định.

Gần đây, “trí tuệ nhân tạo” ngày càng được sử dụng nhiều trong những ứng dụng gần gũi với chúng ta. Ví dụ, các kỹ thuật “trí tuệ nhân tạo” tiên tiến được dùng  trên các trang Web bán hàng trực tuyến (như Amazon, ebay,…) để đưa ra các gợi ý mua sắm cho khách hàng dựa trên những gì họ đã đặt mua trước kia; hay được dùng để đánh giá nguy cơ bệnh tật dựa trên các thông tin di truyền.

Về sau, nhờ có nhiều loại cảm biến (sensor) kết nối trên mạng, chúng ta có thể lưu trữ một lượng khổng lồ các thông tin trong thế giới thực: không chỉ là các thông tin trên Internet như tin nhắn SNS, lịch sử tìm kiếm trên mạng, ảnh, video, mà còn là các thông tin về bệnh án trong y tế, thông tin di truyền, động đất, khí tượng, các thiên thể, điện lực, thị trường chứng khoán, tiền điện tử, lịch sử sản xuất trong các công xưởng, thông tin trong các ngành khoa học cơ bản và trong kinh doanh.

Theo cách này, các nhà khoa học sẽ sử dụng các kiến thức toán học như vector, ma trận, vi phân, tích phân, xác suất, thống kê và những kỹ thuật tiên tiến trong phần cứng và phần mềm máy tính để phát triển các phương pháp “học máy” mới nhằm tìm ra những tri thức mới, chưa được biết đến từ những lượng dữ liệu rất lớn, vượt quá khả năng xử lý của con người. Đây cũng chính là mục tiêu nghiên cứu của ngành trí tuệ nhân tạo và “học máy” từ nay về sau.

 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: